Góc nhìn: Không Vô Can và Ballad Biển Đông

On the net

Phạm Long – Biển Đông để tang sống Tổ Quốc 

Gửi Đào quân và Lý quân

Ai ma nước Nam?

Ai vương đất Bắc?

Ai vô can?

Ai bị can?

Biển Đông thù vằm nát

Hoàng Sa Trường Sa giặc chiếm đoạt

Ballad Biển Đông

                          Không ru lũ hèn

Ballad Biển Đông

                          Khóc dũng sĩ đáy sóng thân vùi

Nghệ thuật vị gì?

                           [Vị hải/vị sơn/vị nghệ thuật/vị nhân sinh?]

Nghệ thuật vị [mặn] nước mắt, vị [chát] muối bể

                          Quần chúng [sĩ phu/thất phu] chết lặng

Để tang Biển Đông hôm nay có muộn

Chớ phải Nước Nam vĩnh biệt sớm bao giờ

Sóng Thép

           Biển Đông

                        Sống Chết

                                    Tổ Quốc.

Phạm Long

Đêm 11 tháng 12 năm 2010

Ở Triển lãm “Không Vô Can và Ballad Biển Đông” của Đào Châu Hải và Lý Trực Sơn tại Viet Art Center, 42 Yết Kiêu, Hà Nội.

 
Các tác phẩm tại triển lãm“Không Vô Can và Ballad Biển Đông” 

Theo tienve.org

Góc nhìn: Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh và chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc

On the net

Đường yêu sách lưỡi bò đầy tham vọng của Trung Quốc.

Không nên trục xuất TS Vương Hàn Lĩnh ra khỏi Việt Nam

Nguyễn Đăng Hưng

Lời dẫn: Trước thềm Hội thảo về Biển Đông được tổ chức tại Sài Gòn (11/11/2010), phóng viên Việt NamNet Huỳnh Phan có phỏng vấn Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh đến từ Viện Luật pháp Quốc tế, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (Bắc Kinh). Ông Tiến sỹ này đã ngang nhiên hăm dọa dân tộc Việt Nam. Đây là lời bình của tôi sau khi đọc bài phỏng vấn này, nhất là trên Blog Nguyễn Xuân Diện anh Hai Xe Ôm đã đề nghị trục xuất ngay ông này ra khỏi Việt Nam.

Ông “học giả” Vương Hàn Lĩnh này thật ra chỉ là một thứ sản phẩm hiện đại (và rẻ tiền) của nền lý luận tuyên giáo Trung Quốc. Các ông quan văn người Tàu thời hiện đại này đã phải qua nhiều thế hệ, nhiều năm, từ 1949 đến hôm nay, học tập, gặm nhấm bài học vỡ lòng của chủ nghĩa bành trướng. Ta biết học thuyết “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” sau thời Đặng Tiểu Bình chỉ còn cái đuôi màu vàng Trung Quốc nước lớn. Khi Vương Hàn Lĩnh đã mạnh miệng tuyên bố: “Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”, – ông ta đã hé mở cho người Việt chúng ta biết não trạng thật sự của cái gọi là “màu sắc Trung Quốc”.

Lời tự thú này cũng là lời tự cáo giác hùng hồn về chủ nghĩa đại Hán thời nay, một thứ chủ nghĩa thực dân mới không hơn không kém. Đức Quốc xã Nazi, tác giả tội ác diệt chủng tại Châu Âu thời thế giới chiến tranh thứ II (1939-1945) cũng bắt đầu bằng cách suy nghĩ như vậy. Trước khi gây chiến, Hitler đã thản nhiên tuyên bố Ba Lan, Tiệp Khắc, một phẩn lãnh thổ Pháp, Bỉ là lãnh thổ cũ của mình…

Nay Trung Quốc có pha thêm chút Á đông kiểu Tần Thủy Hoàng thâm sâu, độc địa bội phần. Vị “tiến sỹ học giả” người Trung Quốc của chúng ta còn không tiếc lời trực tiếp hăm dọa dân tộc chúng ta một cách vô cùng ngang ngược:

– “Tôi muốn nhắc lại nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh. Điều này không hề tốt cho tương lai”.

TS Vương Hàn Lĩnh

Nhà “học giả” này có lẽ chưa đọc trang lịch sử chân thật nào về mối tương quan Việt Trung trong quá khứ, ngay cả mới đây năm 1979. Ông ta chỉ học tập bài học bá quyền, những suy diễn méo mó về lịch sử của chính quyền toàn trị Trung Hoa hiện đại ngày đêm thêu dệt, bắt đầu bằng chính lãnh tụ Mao Trạch Đông. Tôi có nhiều tiếp xúc với giới sinh viên trẻ Trung Quốc sang Châu Âu du học. Số đông họ là như vậy. Họ nào biết đến những sự kiện lịch sử, những thất bại, những bài học cay đắng, nhục nhã mà chính dân tộc Hán phải lĩnh hội khi cố tình gây ra xung đột với Việt Nam, buộc Việt Nam phải tự vệ cứu nước.

Cứ nghe những lời tuyên bố gần đây của các đại diện ngoại giao Trung Quốc thì rõ. Họ được đào tạo từ một lò như vậy.

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường (7 tháng Giêng 2010 tại Hà Nội) đã thách thức cả dân tộc Việt:

– “Hợp tác (với Trung Quốc) sẽ phát triển, (Việt Nam) đấu tranh sẽ thất bại”.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì (ngày 25 tháng bảy 2010 tại Hà Nội sau khi nghe lời phát biểu có lý có tình của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton về Biển Đông) đã thốt lên theo phản xạ giữa nghị trường:

– “Các anh là nước nhỏ, Trung Quốc là nước lớn”.

Thú thật, cả đời tôi chưa bao giờ nghe được những lời lẽ ngoại giao trịch thượng, ngạo mạn và ngang ngược như vậy! Sống trong thế kỷ 21 mà nghe họ tôi có cảm tưởng đang ở thời Trung cổ tại Châu Âu hay thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu: Cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua, lấy thịt đè người… Vậy mà Trung Quốc ngày nay, quá say sưa với những thành quả kinh tế, muốn trở thành siêu cường toàn cầu!

Theo tôi, không nên trục xuất ông Vương Hàn Lĩnh ra khỏi Việt Nam làm gì cho rắc rối ngoại giao với “nước lạ”. Ta nên để vị “học giả” Trung Quốc này đến tham gia hội thảo và phát biểu thoải mái. Nếu ông ta tiếp tục những luận điệu trên thì đây chính là những lời tự cáo giác về chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, giúp cho các nhà học giả quốc tế và Việt Nam thêm hiểu về lập trường này. Và cũng chính những lời tuyên bố hùng hồn ngây ngô này sẽ đem lại vài cái mỉm cười ý nhị lý thú cho các bậc thức giả quan tâm đến Biển Đông Nam Á …
TP Hồ Chí Minh ngày 11/11/2010

Nguyễn Đăng Hưng

Giáo sư Danh dự Thực thụ Đại học Liège, Bỉ.

*Bài do GS. Nguyễn Đăng Hưng gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-Blog. Xin chân thành cảm ơn Giáo sư!

Theo blog Nguyễn Xuân Diện

Tuanvietnam – Tranh biện về Biển Đông với học giả Trung Quốc

Link: http://news.ndthuan.com/viet-nam/tranh-bien-ve-bien-dong-voi-hoc-gia-trung-quoc-277038/

Góc nhìn: Chống Trung Quốc – Không có lợi cho đại cục

On the net

Tin BBC – Việt Nam ‘không chống Trung Quốc’

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh trong phỏng vấn với báo Đảng Cộng sản Nhật Bản khẳng định “Việt Nam không có ý định chống Trung Quốc”.

Bài phỏng vấn với báo Akahata được đăng hôm thứ Hai 27/09 trên trang nhất website của báo Quân đội Nhân dân.

Khi được phóng viên Nhật hỏi nhận định về thông tin cho rằng ‘Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ để chống Trung Quốc’, ông Vịnh đáp lời:

“Chúng tôi cũng khẳng định lại là Việt Nam không hợp tác quốc phòng với Mỹ hay bất cứ nước nào để chống Trung Quốc và Việt Nam cũng không có ý định chống Trung Quốc.”

Ông thứ trưởng nói toàn bộ các mối quan hệ quốc phòng của Việt Nam với nước ngoài đều “dựa trên tinh thần độc lập tự chủ, tôn trọng chủ quyền của nhau, lắng nghe ý kiến của nhau, cùng có lợi, không phương hại tới lợi ích của nước nào và đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực”.

“Với chính sách đối ngoại quốc phòng như vậy thì không thể nói Việt Nam đi với một nước này để chống nước khác.”

Báo chí Trung Quốc những ngày gần đây đã thường xuyên cảnh báo Việt Nam không nên dựa vào ảnh hưởng của Hoa Kỳ để đối trọng lại Trung Quốc, nhất là sau các hoạt động trao đổi quốc phòng dồn dập giữa Washington và Hà Nội.

Không có lợi cho đại cục

  • Hình ảnh ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giam ở quần đảo Hoàng sa, phản ảnh những hành động trái ngược với những tuyên bố chung về Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN.

Ông Nguyễn Chí Vịnh nhận định: “Việt Nam không có lợi ích gì khi chống Trung Quốc”.

Ông cũng nói ý kiến cho rằng Việt Nam thân Mỹ chống Trung Quốc là “không đúng đắn và thiếu thiện chí”, có thể ảnh hưởng tới lòng tin giữa đôi bên.

“Tuy Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp trên Biển Đông nhưng chúng tôi chủ trương giải quyết vấn đề này bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.”

Việt Nam không có lợi ích gì khi chống Trung Quốc.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh

Lập trường của Trung Quốc là luôn khẳng định rằng tranh chấp Biển Đông là vấn đề song phương giữa Trung Quốc và các nước, chứ không phải là vấn đề đa phương để có thể quốc tế hóa.

Đề cập chủ đề này, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam nói: “Quan điểm của Việt Nam là những vấn đề gì có liên quan đến tranh chấp lợi ích giữa hai nước thì hai nước giải quyết với nhau, không lôi kéo nước khác vào giải quyết”.

“Tuy nhiên, vấn đề liên quan đến lợi ích của ba nước, bốn nước thì các nước đó phải ngồi cùng với nhau. Không thể có việc hai nước bàn bạc với nhau việc chung của ba, bốn nước.”

Ông nhấn mạnh tuy Việt Nam không chủ trương quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, nhưng giải quyết nó cần “phải công khai, minh bạch và lắng nghe ý kiến của cộng đồng quốc tế”.

Ông cũng bày tỏ hy vọng các bên liên quan có thể tiến tới đạt được một bộ Quy tắc Ứng xử về Biển Đông (COC) thay cho Tuyên bố về cách ứng xử tại Biển Đông (DOC) đang hiện hành.

Ông Nguyễn Chí Vịnh tiết lộ rằng chuyến thăm Bắc Kinh của ông hồi cuối tháng Tám chủ yếu để tham vấn về Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Asean mở rộng (ADMM+), sẽ tổ chức vào tháng 10 này, “tuy nhiên bên cạnh đó, hai bên cũng bàn về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc”.

Báo Việt Nam cho hay Trung Quốc đã xác nhận sẽ tham gia ADMM+ lần đầu tiên tại Hà Nội, tuy chưa khẳng định chính thức cử đoàn cấp nào.

Việt Nam và Trung Quốc cũng sẽ có đối thoại quốc phòng cấp thứ trưởng vào cuối năm nay.

BBC Tiếng Việt

Cùng suy ngẫm: Hà Văn Thịnh – Phản hồi tướng Nguyễn Chí Vịnh

On the net

Hà Văn Thịnh – Nỗi buồn tướng Vịnh

Tôi là người viết nhiều. Vậy mà, sau khi nghe, đọc những điều ông Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói “với Trung Quốc” ngày 25.8, ngòi bút của tôi bỗng như bị khô mực, ý tưởng bỗng trở nên rối loạn. Tôi hoang mang khi không thể phân định được những lẽ đúng sai mà tướng Vịnh đã nói, đã ám chỉ. Vì đã có rất nhiều bài bình luận về chuyện này, nên tôi không đi vào chi tiết, chỉ lạm bàn dưới dạng tản văn…

1. Cái nguyên tắc “ba không” mà tướng Vịnh đưa ra đã lạc hậu và xưa cũ lắm rồi. Chính trị, ngoại giao thì cũng chỉ là “cuộc đời lớn” của chính con người – hình đồng dạng của sự ứng xử trong đời. Cay đắng nhất của kiếp người là mỗi chúng ta có rất nhiều “bạn”, nhưng lúc gian khó, tuyệt vọng, tất cả các dạng thức “bạn” đó đều bỏ chạy.

Đừng trách người mà hãy tự trách mình: Bắt cá nhiều tay như thế thì chẳng khác gì câu thành ngữ của phương Tây – một con chim trong tay hơn rất nhiều con trên cây. Làm bạn với tất cả mọi quốc gia cũng chẳng khác gì nói tôi yêu tất cả loài người – bao gồm cả tội phạm ma túy, trộm cướp, găng-tơ, những kẻ giết người…

Cách nói đó cũng là “mô hình” chung của mệnh đề rất quen tai: một số đồng chí chưa tốt, một số con sâu. Nó phản ánh cái nửa vời, cái đoản kiến của tư duy, cái lập lờ của tình cảm (chân thành), cái bối rối của phương pháp tiếp cận, cái dại dột cũ mòn trước một thế giới đang được rạch ròi hóa, cụ thể hóa.

Chưa bao giờ đất nước Việt Nam cần một đồng minh chiến lược như lúc này. Đừng tự hào vì “tài năng” đi giữa Liên Xô – Trung Quốc để mưu lợi một cách cơ hội nữa. Vì dẫu có thành công trong một giai đoạn nào đó thì về lâu dài, chẳng ai tin anh. Đã không tin thì không thể có hợp tác chân thành, không thể có sự hết mình với tư cách là đồng minh.

Trong cuốn sách Biểu tượng thất truyền, Dan Brown có cho biết rằng thuở xa xưa, những người thợ điêu khắc đã “sửa chữa” sai lầm của mình khi tạc tượng (đá nứt nẻ, mẻ, sứt) bằng cách nấu sáp nóng chảy để xóa mờ các dấu vết chắp vá, hàn kết. Vì vậy, một pho tượng có giá trị là pho tượng được khẳng định rằng nó “không có sáp” (sine sera) – và, đó là nguồn gốc của chữ “chân thành” trong tiếng Anh (sincerely). Như vậy, nếu không có chân thành, nếu quan hệ ngoại giao mà khi nào cũng ngập tràn sáp, ngập tràn sự nửa vời của son phấn thì cái kết cục tất yếu sẽ là sự tan chảy dưới ánh nắng mặt trời nghiệt ngã của chân lý. Mà chân lý là cụ thể: Không thể chân thành với tất cả mọi hạng người, nhưng nhất thiết phải có sự chân thành trong quan hệ đồng minh chiến lược theo nguyên tắc ràng buộc của các lợi ích chiến lược, đó là con đường sống còn khi tình thế hiểm nguy, phức tạp trở thành mối đe dọa lừng lững trên đầu mình. Làm gì bảo vệ được lợi ích chiến lược nếu bấy giờ mình là kẻ thân cô, thế cô vì cứ muốn ôm chân cả kẻ thù và bạn hữu? Bài học từ Hoàng Sa năm 1974, từ chiến tranh biên giới năm 1979, từ Trường Sa năm 1988…, chẳng lẽ chưa đủ thuyết phục về cái cách tìm sai “bạn” đồng minh chiến lược hay sao? Hãy giở Hiệp ước hữu nghị Việt – Xô, 3.11.1978 ra sẽ thấy Liên Xô đã cam kết thế nào và đã rất “lấy làm tiếc” khi Trung Quốc tấn công Việt Nam ra sao.

2. Tướng Vịnh tuyên bố với phóng viên mạng Hoàn cầu của Trung Quốc rằng “về phần Việt Nam, chúng tôi sẽ không bao giờ trở thành đồng minh quân sự của Mỹ”(!)?

Có lẽ, tướng Vịnh chưa bao giờ đọc lịch sử để biết các chính khách phương Tây ăn nói ra sao? Ví dụ, khi phê phán Chính phủ Pháp vong ân bội nghĩa về chuyện Mỹ cứu nước Pháp khỏi phát xít Đức năm 1945 mà quay ra phê phán Mỹ quyết liệt trong chuyện tấn công Iraq, TT Bush nói: “Người Pháp là dân tộc không thích nghĩ về quá khứ” (tức là ăn cháo đái bát!). Hoặc, để đe dọa Liên Xô, trong diễn văn nhậm chức năm 1981, R. Reagan nói rằng “và, các kẻ thù tiềm tàng của nước Mỹ cần phải biết rằng chúng ta sẽ tăng cường sức mạnh vì chúng ta biết rõ đó là cách tốt nhất để khỏi phải đem sức mạnh đó ra dùng”…

Cụm từ “không bao giờ” là cụm từ hầu như không có trong tự điển ngoại giao, bởi vì nó không đúng, nó vô lý và nó… dại khờ, nói trắng ra là ngu xuẩn. Không có cái gì được hạn định bởi không bao giờ! Đó là chân lý của muôn đời vì sự biến thiên của nhận thức, sự không tưởng có thật đã được lịch sử chứng minh rất nhiều lần. Tại sao lại không thể nói là “trong một tương lai xác định (có thể nhìn thấy được), Việt Nam chưa có ý định liên minh quân sự với bất kỳ nước nào”? Nói như tướng Vịnh chẳng khác gì ném vào mặt Ngoại trưởng Mỹ một cái gì đó thật đau lòng, bởi chỉ cách đó mấy ngày, chính bà Ngoại trưởng Mỹ đã khẳng định vai trò của Mỹ trong việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, và người Trung Hoa đã tức tối vô cùng. Họ tức tối có nghĩa là Việt Nam đã giành điểm tối đa. Vì sao lại không hiểu cái lẽ tối thiểu thông thường đó?

3. Không thể hòa giải với Trung Quốc chừng nào họ không thật tâm giải quyết cái lưỡi bò, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi sự níu kéo chỉ là vô ích.

Xin hỏi tướng Vịnh là nếu nhà hàng xóm lấn chiếm đất đai của ông, đánh đập vợ con ông thì ông có hữu nghị với họ không, khi họ không trả lại phần đất lấn chiếm, khi họ cứ tiếp tục đánh đập, hãm hại những người thân thiết (ngư dân Việt Nam)? Chắc chắn là không. Đừng có ảo tưởng tin vào lòng tốt của bá quyền đại Hán. Một trong những đại Hán có thể “nói chuyện” được nhất là tướng Lưu Á Châu đã nói thẳng ra rằng “Mục đích duy nhất của quyền lực là thay đổi để có quyền lực lớn hơn nữa” (Viet Studies).

Làm sao tướng Vịnh có thể nói “sự phát triển của Trung Quốc, trong đó có quốc phòng (Tân Hoa xã dịch là phát triển quân sự), Việt Nam ủng hộ và vui mừng”? Thứ nhất, nếu Tân Hoa xã dịch sai thì ông phải đính chính cho công luận biết. Thứ hai, chẳng có nước nào lại vui mừng khi nước láng giềng tăng cường sức mạnh quân sự trừ phi giữa hai nước đã có hiệp ước liên minh quân sự. Thứ ba, những điều tướng Vịnh nói chỉ diễn ra mấy ngày sau khi Trung Quốc thăm dò dầu khí cách bờ biển Quảng Ngãi có 90 hải lý – trắng trợn chà đạp chủ quyền, an ninh của Việt Nam, nên không thể chấp nhận được. Vui mừng cái nỗi gì khi chúng nó ba bề bốn bên toa rập, bao vây và ép Việt Nam như ép mía trên mọi lĩnh vực? Không thể nhân nhượng, không thể đan tay vào nhau (bó tay) hoặc cúi mình khúm núm đưa cả hai tay ra vồ lấy một tay của người ta được nữa (cứ nhìn ảnh sẽ thấy).

Đôi khi tôi chợt nghĩ hoang mang rằng phải chăng rất nhiều người đang sợ sự phát triển của lòng yêu nước? Họ sợ vì cho rằng một khi lòng yêu nước được dâng lên vô bờ bến sẽ trở thành những đợt sóng có sức mạnh phi thường cuốn trôi đi tất cả mọi rác rưởi của sự ngu tối, đớn hèn, tham lam, thiển cận? Ước gì điều tôi nghĩ bị sai.

Cách đây mấy năm, con gái tôi đi học quân sự về nói: “Ba ơi, các thầy nói “thằng Clinton”, “thằng Bush”; trong khi ba dặn không được nói như thế, làm sao hở ba”? Tôi không thể trả lời. Cách đây ít ngày, con trai tôi đi học quân sự về, kể: “Các thầy nói các em chuẩn bị tinh thần chứ rất có thể Tàu nó sẽ đánh mình”. Lời kể đó là liều doping cần thiết để cho tôi viết những dòng này. Ít nhất, tôi tin, không ít sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã ý thức được mối nguy hiểm cận kề. Tại sao tướng Vịnh lại không hiểu?

Cách đây hàng chục năm, tôi đã thuộc nằm lòng bài thơ Tố Hữu viết về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Trong đó có bốn câu thật hay, tôi xin đọc lại cho tướng Vịnh nghe: Tưởng lại đưa anh ra chiến trường/ Đường về vó ngựa thẳng dây cương/ Ngày mai ai biết chiều nay phải/ Vĩnh biệt anh nằm dưới bóng dương. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không bao giờ lầm tưởng. Là người lính, ông luôn thẳng dây cương trước mọi kẻ thù chứ chẳng bao giờ bó gối, đan tay. Chắc ông sẽ không tin “Ngày mai ai biết chiều nay phải vĩnh biệt” những can trường, sự hy sinh và lòng dũng cảm vô bờ của người lính trước những đe dọa, chà đạp thô bạo của kẻ thù? Bởi đó quả là nỗi buồn xa xót đến tận cùng trong mọi trái tim Việt đang nhức nhối, đớn đau…

Huế, 5.9.2010

HVT

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Link gốc: http://boxitvn.blogspot.com/2010/09/noi-buon-tuong-vinh.html

Nhận định: Lãng – Viễn kiến nào cho Biển Đông?

On the net

Lãng – Viễn kiến nào cho Biển Đông?

Những ngày gần đây, Biển Đông trở thành trung tâm chú ý của dư luận thế giới. Hầu hết các hãng thông tấn toàn cầu đều loan báo với cùng một giọng điệu chung: “Mỹ đã quay lại khu vực Đông Nam Á”. Cùng với đó là sự bận rộn của các trung tâm phân tích chiến lược trên thế giới, và trên hết, là phản ứng cấp thời của các nước có liên quan trong khu vực. Trung Quốc, nước đóng một vai trò rất lớn trong việc gây ra các xáo trộn về quyền lực toàn cầu, tất nhiên, gây chú ý nhiều hơn cả bởi các phát ngôn và hành động đao to búa lớn của mình.

Hạm tàu sân bay Geoge Wasington đang neo đậu ngoài khơi Đà Nẵng, cách bờ biển Việt Nam 200 hải lý, trong lúc các khu trục hạm mang tên lửa tấn công phối thuộc thì đang bận rộn với các hoạt động viếng thăm quân cảng của Việt Nam. Diễn biến này đáp ứng đòi hỏi của Việt Nam cũng như Hoa Kỳ, đồng thời cũng là điều Trung Quốc không muốn thấy.

Sự quay lại của Mỹ đã gây ra những phản ứng tích cực từ hầu hết các nước trong khu vực. Indonexia, trong một động thái chưa từng có, công khai phản bác yêu sách chủ quyền về vùng biển Trung Quốc đơn phương vạch ra ở Biển Đông. Việt Nam , nước có quyền lợi trực tiếp nhất đối với biển Đông thì hào hứng và bận rộn trong các hoạt động ngoại giao, quân sự con thoi với đối tác mới. Phillipin cũng tranh thủ cơ hội đóng vai trò của một người hòa giải, khi cao giọng tuyên bố tranh chấp ở Biển Đông chỉ cần đàm phán song phương giữa khối Asean với Trung Quốc, mà không cần có sự tham gia của bên thứ ba (ở đây là Mỹ). Nhìn một cách tổng thể, có vẻ các nước trong khu vực Đông Nam Á đang hành động có phần trái chiều, nhưng tinh tế hơn, sẽ thấy các nước đều đang chơi con bài riêng của mình, nhằm tối đa hóa lợi ích với yếu tố mới phát sinh do sự hiện diện trở lại của Mỹ trong khu vực. Người ta nhìn nhận việc Phillipin rất tế nhị đưa ra lời nhận xét muốn đàm phán song phương giữa khối Asean với Trung Quốc (Điều Trung Quốc mong muốn), song song với việc kêu gọi các nước nhanh chóng hoàn thiện và ký kết bộ quy tắc ứng xử chung trên Biển Đông (Điều Trung Quốc không hề muốn). Đây là một cửa lùi khôn khéo Phillipin mở ra cho khối Asean với người Tàu, có toan tính đến vai trò mà Mỹ đang hiện diện. Phản ứng các nước có thể khác nhau về biểu hiện bề ngoài, nhưng có vẻ các nước Asean đang cùng chơi chung một chiến lược, có đấm có xoa với dã tâm thôn tính Biển Đông của người Trung Quốc.

Căng thẳng Mỹ – Trung bắt nguồn từ một loạt vấn đề. Nghiêm trọng nhất là xung đột hai nước về kinh tế, thương mại và tài chính. Mỹ hiện nay chịu thâm hụt nặng trong kim ngạch buôn bán song phương với Trung Quốc, nhiều công ty Mỹ gặp khó khăn với môi trường kinh doanh và các rào cản kỹ thuật Trung Quốc dựng lên ở nội địa, và quan trọng hơn cả, do có thặng dư thương mại khổng lồ, dư dả về ngoại tệ, Trung Quốc đang là chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ. Đây là điểm yếu mà Mỹ đang tìm mọi cách để khắc phục. Bên cạnh đó, các chiến lược về chính trị, kinh tế của Trung Quốc đang phá hoại các toan tính trên bình diện an ninh toàn cầu của Mỹ và Đồng Minh. Ván bài Trung Quốc chơi tại Triều Tiên, khiến Mỹ rơi vào tình thế bế tắc và hầu như không thể giải quyết tình hình trên bán đảo này trong 3 – 5 năm tới. Câu chuyện tại Iran nặng nề hơn nhiều. Trong lúc Mỹ cố gắng áp dụng các lệnh cấm vận trừng phạt nhằm làm nản lòng của Iran trong tham vọng phát triển hạt nhân, thì Trung Quốc đang đào hố dưới chân Mỹ. Các công ty Trung Quốc đang vớ bẫm từ những hợp đồng béo bở ký với Iran trên một loạt lĩnh vực từ sản xuất, thương mại, và đặc biệt hơn cả là các hợp đồng khoan hút dầu và khí đốt. Cách chơi không mấy mã thượng của Trung Quốc khiến Mỹ thiệt thòi cả về kinh tế cũng như chính trị. Nước Mỹ đã có quá đủ, đã đến lúc nó thấy cần phải hành động.

Một loạt các diễn biến kéo dài suốt từ tháng 3/2010 trở lại đây cho thấy Mỹ đang có sự điều chỉnh về chiến lược. Mỹ và đồng minh đang tìm mọi cách gây sức ép với Trung Quốc, để bắt các quốc gia hãnh tiến ấy phải chấp nhận một luật chơi chung. Nước Mỹ cần đến những người bạn mới bên cạnh những người bạn cũ. Nhìn xa hơn qua đại dương, đích nhắm của họ hiện tại chính là Việt Nam. Quốc gia duy nhất, cũng là dân tộc duy nhất trong khu vực, có đủ tiềm chất để cứng chọi cứng với Trung Hoa. Sự cứng cổ của người Việt Nam, nước Mỹ đã từng nếm trải và thấm thía. Quá khứ tuy đau đớn, nhưng giờ người Mỹ nhận ra rằng sự cứng cổ ấy là thứ nước Mỹ cần trong ván bài chiến lược toàn cầu gây sức ép với Trung Hoa.

Cũng chính ở thời điểm này, quyền lợi quốc gia khiến Việt Nam mong muốn xích lại gần Mỹ một cách tự nhiên. Đã nhiều tháng nay, Việt Nam chật vật khốn khó với các hoạt động bành trướng đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông. Không thể trơ mắt nhìn Trung Quốc gây sức ép phá hoại các hợp đồng khai thác tài nguyên nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, bắt bớ bắn giết và cướp đoạt tiền bạc của ngư dân trên biển, và đẩy các dàn khoan thăm dò dầu khí ngày một xa hơn xuống phía nam, chính quyền Việt Nam gồng mình trong những hợp đồng mua sắm trang bị quốc phòng tốn kém. Người Việt Nam cố gắng bằng mọi cách nâng cao sức mạnh của mình, nhưng họ biết, chỉ có vậy là không đủ. Điểm chung này khiến Việt Nam hoan hỉ đón nhận sự trở lại của Mỹ trong khu vực với một sự hồ hởi hiếm thấy, bất chấp các lời chỉ trích thường xuyên qua lại giữa hai bên do sự khác biệt về ý thức hệ.

Phần lớn các nhà phân tích chiến lược trong những ngày này đều đưa ra nhận xét vui mừng với sự ấm nóng trong quan hệ Việt Mỹ. Ở một phía ngược lại, Trung Quốc thì nhìn nhận vấn đề trong con mắt dè chừng và có phần cay cú. Trung Quốc nhận ra, Mỹ đang phá hoại luật chơi mà Trung Quốc muốn áp dụng trong khu vực.

Tuy nhiên, sẽ là quá sớm khi nói đến một mối quan hệ đồng minh bền vững giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. Và sẽ là hết sức ngây thơ, nếu vội nhận xét rằng, Việt Nam cần trở thành đồng minh của Mỹ để chặn bước người Tàu trên biển. Đơn giản, bởi đó là điều ảo tưởng.

Thế giới sau thời Bezinsky hiếm có nhân vật chính trị nào có tầm nhìn vượt thời đại vài chục năm. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần có một “Viễn Kiến Biển Đông”, nhìn sâu vào bản chất vấn đề và vạch đường đi cho hôm nay và cho nhiều thế hệ kế tiếp. May mắn thay, Việt Nam không thiếu người tài, hơn thế, lãnh tụ Lãng vẫn còn sung sức, chưa liệt dương và còn lâu mới chết :D.

Các bạn phải chấp nhận những nhận xét dưới đây như những tiên đề không chứng minh, và phải xây đắp tầm nhìn của mình trên cơ sở những tiên đề ấy:

Tiên đề 1: Mỹ đến và Mỹ đi.

Người Mỹ đã từng hiện diện trong khu vực vì lợi ích quốc gia của nó. Họ ra đi khi thấy việc ở lại không tác dụng gì mà chỉ thiệt hại thêm. Ngày nay, cũng với toan tính về lợi ích quốc gia mà Mỹ tính chuyện quay lại biển Đông. Chính sách chiến lược của Việt Nam phải được xây dựng trên nền tảng: Người Mỹ có thể đến, nhưng họ sẽ không ở lại vĩnh viễn, mà họ sẽ có thể đi. Mọi chính sách chiến lược trông chờ vào sự hiện diện của Mỹ một cách lâu dài, do đó, chắc chắn đều là sai lầm.

Tiên đề 2: Mỹ – Trung đối đầu nhưng không bao giờ triệt hạ lẫn nhau.

Quyền lợi quốc gia khiến Trung – Mỹ đối đầu, thậm chí mâu thuẫn gay gắt, nhưng sẽ không bao giờ đủ lớn để tính chuyện triệt hạ lẫn nhau. Đơn giản bởi điều đó là phi thực tế. Mỹ quá mạnh để Trung Quốc có thể thách thức trực diện trong một tương lai 50 năm, ngược lại, Trung Quốc quá lớn để Mỹ có thể tính tới việc thanh trừng. Cả hai nước do đó sẽ phải chấp nhận sự tồn tại của nhau. Các nước nhỏ như Việt Nam , sống bên lề của các nền văn minh lớn, phải nhìn thấu suốt thực tế này. Ngày hôm nay Trung – Mỹ đang gấu ó sửng cồ với nhau, mâu thuẫn có vẻ cao trào, nhưng chắc chắn ngày mai họ sẽ phải tìm cửa xuống thang để cùng hạ đài bàn bạc. Đây là cái bẫy chiến lược mà các nước nhỏ thiếu tầm nhìn thường phạm phải sai lầm, khi đánh giá không đúng về thực trạng mâu thuẫn giữa các cường quốc.

Tiên đề 3: Mâu thuẫn chủ yếu Mỹ – Trung là về kinh tế, không phải về chính trị hay quân sự.

Nước Mỹ đã bỏ phần còn lại của thế giới ở khoảng cách quá xa, để có thể có một quốc gia nào đó đe dọa được Mỹ về quân sự. Ngược lại, Mỹ đang yếu đi về kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng thậm thụt hàng năm, cộng với tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài như một phần gắn liền với nền kinh tế tiêu dùng của Mỹ khiến sức mạnh kinh tế của siêu cường ấy ngày một suy yếu. Trong lúc đó, Trung Quốc với kỳ tích tăng trưởng chưa từng thấy trong nền kinh tế hiện đại, với mức tăng trưởng hai chữ số kéo dài qua ba thập niên và chưa có dấu hiệu dừng lại, đang ngày một thu hẹp khoảng với Hoa Kỳ. Hơn lúc nào hết, Mỹ đang hết sức lo ngại với viễn cảnh Trung Quốc soán ngôi thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Với số dân đông, khả năng tổ chức sản xuất hàng lọat trên quy mô lớn cực kỳ hiệu quả, và những chính sách tổng hợp trong hỗ trợ xuất khẩu, từ trợ giá, hỗ trợ thuế, đến việc duy trì chính sách tỷ giá, tiền tệ tạo thuận lợi tối đa cho sức cạnh tranh của hàng hóa made in china bán ra thế giới, Trung Quốc đã tạo được nhiều kỳ tích và nhanh chóng nâng cao sức mạnh kinh tế của mình.

Mỹ và đồng minh đang tìm mọi cách xóa bỏ các lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc, thu hẹp thâm hụt thương mại, và làm suy giảm vai trò chủ nợ của Trung Quốc đối với Mỹ nói riêng và phần còn lại của thế giới nói chung. Đây là điểm cốt tủy trong sự đối đầu Mỹ – Trung, nó sẽ còn kéo dài trong ít nhất 5 – 10 năm tới.

Việc mở rộng tầm ảnh hưởng về chính trị và quân sự của Trung Quốc sang các khu vực lân cận, bao gồm biển Đông, trên thực tế không nằm trong các lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ. Trong mọi trường hợp, dù Trung Quốc có thành công hay không trong tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, thì Mỹ vẫn có toàn quyền đi lại thuận tiện theo các lộ trình hàng hải vốn có, bởi Trung Quốc không thể và cũng chẳng dại dột gì chặn tàu bè Mỹ.

Căng thẳng Mỹ – Trung do đó chỉ là nhất thời, hòa hoãn và đàm phán mới là xu thế chủ đạo.

Tiên đề 4: Cuộc đối đầu dài hạn Mỹ – Trung, phần thắng tất yếu thuộc về Mỹ.

Có nhiều lý do để anh Lãng tin vào viễn kiến của mình:

– Xã hội Trung Quốc đang tiến nhanh trong 30 năm qua theo một cách thức riêng, nhưng đó là một nền văn minh chông chênh, thiếu nền tảng và không thích ứng thời đại. Thế chế cai trị tại Trung Quốc tất yếu sẽ phải thay đổi, điều đó sẽ dẫn tới những biến động to lớn khó lường, ảnh hưởng nặng đến viễn trình lâu dài của nền kinh tế Trung Hoa. Trong khi đó, xã hội Mỹ là một xã hội ưu việt, nền văn minh Mỹ đã được thử thách qua nhiều thăng trầm, vượt qua nhiều cuộc khủng hoảng, và đặc biệt, vẫn giữ được tính năng động với khả năng tự đổi mới đứng đầu thế giới. Nền tảng chính trị xã hội Mỹ bền vững hơn nhiều so với nền tảng chính trị xã hội hiện nay tại Trung Hoa. Do đó, trong một cuộc đấu đường trường, lợi thế tất yếu thuộc về Mỹ.

– Trên bình diện quốc tế, Mỹ là một tay già dơ với đủ thứ bạn bè, những mối quan hệ được xây đắp bền vững theo thời gian, trong khi Trung Quốc vẫn chỉ là một tay gà mờ nhập cuộc. Mỹ có nhiều bạn bè hơn Trung Quốc, nhiều nước chia sẻ cái nhìn của Mỹ hơn là Trung Quốc.

– Nền tảng xã hội Trung Quốc hiện tại tiềm ẩn một vực thẳm mà Trung Quốc nhìn thấy trước nhưng không thể khắc phục: Cơ cấu dân số, cơ cấu giới tính hiện tại và 20 năm sau. Hiện tại thì số dân đông đang trong tuổi lao động là lợi thế lớn của Trung Hoa. Nhưng chính sách sinh một con đang dẫn tới thảm họa mất cân bằng giới tính, và sự thiếu hụt bổ sung về nguồn nhân lực tương lai cho công xưởng khổng lồ của Trng Hoa. Sau 20 năm nữa, số người già nghỉ hưu ở Trung Quốc sẽ chiếm đại bộ phận dân số, và có tuổi thọ ngày càng tăng. Tương lai, người Trung Quốc lấy ai lao động để nuôi sống số dân dưỡng già của nó. Viễn cảnh này sẽ chặn đứng mọi giấc mơ vươn lên về dài hạn của Trung Quốc, bất chấp hiện tại nó đang tăng trưởng với tốc độ bao nhiêu. Trong khi đó, nước Mỹ, với tư cách là một nước phát triển, cũng phải đối mặt với sự suy giảm suất sinh, ngược lại, do là một điểm đến hấp dẫn về mức sống, cơ hội, văn minh và trình độ khoa học, Mỹ giữ được tính ổn định với nguồn dân cư chất lượng cao luôn được bổ sung. Thắng lợi lâu dài, do đó, hoàn toàn nghiêng về phía Mỹ.

– Lợi thế chính của Trung Quốc trong sức mạnh kinh tế, là nằm ở sức mạnh xuất khẩu và tư cách một công xưởng cho nền kinh tế thế giới. Sức mạnh này được tạo ra một cách bất bình đẳng bởi chính sách tỷ giá, chính sách hỗ trợ xuất khẩu tổng hợp mà Trung Quốc áp dụng trong nhiều thập niên qua. Ngòai ra, Trung Quốc hiện tại đang nắm trong tay một số nguồn tài nguyên sống còn, có thể đe dọa Mỹ và các nước phương tây, là đất hiếm. Tuy nhiên, những lợi thế này của Trung Quốc hoàn toàn không thể duy trì trước một chính sách tổng hợp của Mỹ và Đồng Minh. Chắc chắn rằng Mỹ và phương Tây sẽ gây sức ép thành công bắt buộc Trung Quốc phải nới lỏng tỷ giá, tiền tệ và xóa bỏ các chính sách hỗ trợ xuất khẩu tạo lợi thế bất bình đẳng. Trung Quốc đã bóp chết nhiều ngành sản xuất ở nhiều quốc gia. Hiện tại Mỹ và đồng minh đang nỗ lực chặn nó lại, và Trung Quốc rồi sẽ phải nhượng bộ. Một khi Trung Quốc mất đi các lợi thế cạnh tranh xuất khẩu, và suy giảm vai trò một nhà sản xuất toàn cầu, Trung Quốc sẽ không còn là mối đe dọa có tính hiểm họa đối với Mỹ nữa.

Tiên đề 5: Khi thắng trong ván bài kinh tế, Mỹ sẽ nhường nhịn các đòi hỏi của Trung Quốc về không gian ảnh hưởng xung quanh.

Khi thành công trong vấn đề “lợi ích cốt lõi”, Mỹ đương nhiên và bắt buộc sẽ phải nhân nhượng Trung Quốc trước các đòi hỏi kém quan trọng hơn. Biển Đông, tiếc thay, có thể xếp vào nhóm đó. Một nước Mỹ vững vàng ngự trị về kinh tế, sẽ giúp Mỹ tiếp tục giữ sức mạnh về quân sự, chính trị toàn cầu. Do đó, bất kể Trung Quốc có hay không có chủ quyền ở Biển Đông, quyền giao thông của Mỹ và Đồng Minh sẽ hòan toàn không bị đe dọa. Do đó, Mỹ sẽ đến và rồi cũng sẽ rời khỏi biển Đông về dài hạn.

Tuy nhiên điều đó không diễn ra ngay, anh Lãng nhận định rằng, cuộc đấu Mỹ – Trung trên bình diện kinh tế sẽ còn kéo dài trong ít nhất 5 – 10 năm kế tiếp, thậm chí còn có thể kéo dài lâu hơn nữa. Trong thời gian đó, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục tăng cường hiện diện ở biển Đông, nâng cao quan hệ với Việt Nam và các nước trong khu vực trong một toan tính gây sức ép tổng hợp với Trung Quốc.

Mọi chính sách chiến lược của Việt Nam , do đó, đều phải xây dựng trên cơ sở của 5 nhân tố có tính tiên đề sống còn này.

Anh Lãng

Góc nhìn: Việt Nam cần phải làm gì?

On the net

Chừng nào mà lương bộ trưởng công khai chỉ có 2,5 tr đồng, làm bộ trưởng lương thấp thế làm làm đéo gì, có ai bị điên đâu. Cho nên việc ăn cắp công khai và tha hóa hệ thống là điều không thể tránh khỏi. Ở điểm này, anh đồng ý với nhận định của Geoge Onwell, theo đó hệ thống chính trị độc đảng đạo đức giả chỉ tạo điều kiện để những kẻ giỏi đấu đá và vô đạo đức leo cao, chứ không có chỗ cho những người có phẩm chất và có tài trị quốc.

Trong khi, hơn bất cứ lúc nào, với tình thế phức tạp hiện nay, Việt Nam cần đến những tài năng kiệt xuất lèo lái quốc gia.

Lãng

Lãng – Câu hỏi đặt ra: Việt Nam cần phải làm gì?

Việt Nam cần làm gì đáng ra đéo phải việc của anh, nhưng thân làm lãnh tụ ai lại vô trách nhiệm thế. Do đó, đây là những định hướng mà người Việt cần lưu tâm tới:

1. Chính sách tận dụng và khai thác mâu thuẫn Mỹ – Trung.

Mỹ – Trung hiện tại đang căng thẳng, nhưng cả hai nước đều phải chấp nhận sự hiện diện của nhau, do đó, căng thẳng chỉ mang tính nhất thời, không bản chất, chủ yếu vẫn là sự hợp tác và đàm phán. Việt Nam cần tận dụng tối đa mâu thuẫn Mỹ – Trung, không phải để dựa vào Mỹ chống Trung Quốc hay ngược lại, mà là dựa vào sự mâu thuẫn giữa hai quốc gia, để tối đa hóa lợi ích quốc gia, nâng cao tiềm lực đất nước, tiến tới một viễn cảnh tự chủ, buộc các nước phải tính tới Việt Nam như một nhân tố không thể gạt khỏi cuộc chơi.

Chúng ta khai thác Mỹ thế nào? Cần tận dụng xu hướng ấm nóng Mỹ – Việt trong hiện tại để tận dụng tối đa các lợi ích đến từ Mỹ. Cái nhìn của xã hội Mỹ, nền chính trị Mỹ và do đó là giới tinh hoa nắm quyền chi phối về tiền bạc và chính trị đang hướng tới Việt Nam. Đây là cơ hội vàng để Việt Nam thu hút thêm các nguồn vốn đầu tư, các cơ hội hợp tác làm ăn với Mỹ, thậm chí, là tranh thủ sự chú ý của Mỹ để thúc đẩy một số chính sách có lợi cho Việt Nam. Chẳng hạn thúc đẩy Mỹ công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, nới nỏng các hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa Việt Nam, và tăng cường viện trợ cho Việt Nam về kinh tế cũng như công nghệ. Tận dụng tốt cơ hội này, kinh tế Việt Nam sẽ có thể có một sức bật mới, có tầm quan trọng sống còn với tương lai phát triển tự cường của đất nước. Đồng thời, cũng với sự nâng cao hợp tác Mỹ – Việt, Việt Nam có thể tiếp cận với những công nghệ vũ khí tối tân nhất của Mỹ, để nâng cao sức mạnh quân sự, bảo đảm khả năng phòng vệ quốc gia. Đây là những lợi ích chiến lược.

Bên cạnh đó, Việt Nam có thể tận dụng Mỹ với tư cách một chiếc ô an ninh. Hiểm họa lớn nhất của Việt Nam , là một cuộc xung đột cục bộ trên biển Đông với Trung Quốc. Do chênh lệch sức mạnh và do dã tâm thôn tính của người Tàu, thời gian qua, mối đe dọa này là một nguy cơ hết sức hiện thực. Tuy nhiên, sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông sẽ là một bảo đảm khiến một cuộc xung đột như thế không thể xảy ra. Việt Nam cần tranh thủ hết sức sự có mặt của các hạm tàu Mỹ, các tập đoàn Mỹ tại biển Đông, tranh thủ thời gian hòa bình để củng cố tiềm lực quốc gia. Mỹ sẽ đến và rồi tất yếu sẽ đi khi mâu thuẫn cốt lõi Mỹ – Trung được giải quyết. Chúng ta có từ 5 – 10 năm quý báu hòa bình để nâng cao sức mạnh, dẫn tới cơ sở cho một nền hòa bình vĩnh viễn. Hòa bình, chỉ có thể đến với kẻ có đủ sức mạnh duy trì nó.

2. Kiên quyết và mềm dẻo trong quan hệ với Trung Quốc.

Quan hệ Việt – Trung hôm nay, lợi ích cốt lõi của Việt Nam đang bị tổn hại nặng nề trên một loạt phương diện. Nổi bật nhất, nguy hiểm nhất, là về kinh tế. Việt Nam hiện phải chịu mức nhập siêu kinh khủng với Trung Quốc, làm xói mòn dự trữ ngoại tệ quốc gia, gây khó khăn nặng nề đến chính sách tỷ giá, tiền tệ và một loạt những vấn đề cốt lõi khác. Hơn thế, sự tràn ngập của hàng hóa Trung Quốc, được hỗ trợ bởi chính sách tỷ giá đồng nhân dân tệ, chính sách hỗ trợ xuất khẩu mà Trung Quốc áp dụng nhất quán nhiều thập niên, đang bóp chết nhiều ngành sản xuất của Việt Nam. Chúng ta đang thua ngay trên sân nhà, do sự yếu kém về quản lý vĩ mô và cả sự nhượng bộ thái quá của chính phủ. Vấn đề còn trầm trọng hơn bởi tình trạng buôn lậu qua biên giới Việt Trung, mà Việt Nam không thể kiểm soát còn Trung Quốc thì không thèm, hay nói đúng hơn là không muốn kiểm soát, khi lợi ích của hoạt động này hòan tòan thuộc về họ.

Chúng ta phải xác định rằng, chiến lược khắc phục thâm hụt thương mại với Trung Quốc, chiến lược dựng lên những hàng rào kỹ thuật tương thích WTO để bảo vệ nền sản xuất Việt Nam trước hàng hóa Trung Quốc phải là một “lợi ích cốt lõi”, là một vạch đỏ không thể lùi của người Việt Nam. Việt Nam cần bằng mọi giá, bằng những chính sách tổng hợp, cả về thuế, hàng rào kỹ thuật, chính sách tỷ giá với đồng NDT để đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ tình trạng nhập siêu với Trung Quốc. Riêng vấn đề kiểm soát hàng nhập lậu xuyên biên giới, lực lượng hải quan và công an hiện tại đã bất lực, Việt Nam cần kiên quyết huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, thậm chí sử dụng cả lực lượng quân đội kiểm soát chặt biên giới để xóa bỏ vấn nạn đang làm chảy máu quốc gia này. Những chính sách này sẽ gây phản ứng mạnh từ phía Trung Quốc, nhưng Việt Nam cần kiên quyết làm, và làm đến cùng bởi đó là giới hạn đỏ mà người Việt không thể lùi. Hơn thế, lúc này, với sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, Việt Nam đang có sự đảm bảo hòa bình để kiên quyết thực thi chính sách của mình.

Bên cạnh đó, chúng ta cần hết sức mềm dẻo. Mỹ – Việt xích lại gần nhau khiến Trung Quốc thấy lạnh sườn và hết sức quan ngại. Điều đó buộc Trung Quốc thay vì tiếp tục hung hăng và đàn áp Việt Nam , phải hạ giọng và cùng ngồi xuống bàn đàm phán. Trung Quốc gặp phải nhiều vấn đề, chẳng hạn an ninh của Trung Quốc ở Biển Đông, của tuyến vận tải chiến lược xuyên eo biển Mallacca, vốn đang là cái yết hầu của nền kinh tế Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc còn gặp phải các vấn đề thuộc nội trị tại Tây Tạng, Tân Cương và eo biển Đài Loan. Những thứ đó, là những vấn đề Việt Nam cần hết sức mềm dẻo, hết sức ủng hộ Trung Quốc nhưng phải kèm theo điều kiện lợi ích. Trong nhóm lợi ích cốt lõi của Việt Nam , chủ quyền trên biển Đông cũng là một hợp phần không thể tách rời. Trong mọi trường hợp, Việt Nam phải bảo vệ được vùng biển thuộc thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa kéo dài chiếu theo công ước quốc tế về luật biển 1982. Việc tái thu hồi lại các đảo đá bị Trung Quốc chiếm bằng vũ lực chưa nên đặt ra, mà cần gác lại, tập trung giải quyết trước hết về chủ quyền chiếu theo thềm lục địa. Đây là giới hạn cuối mà người Việt Nam không được phép lùi trong bất kể mọi tình huống, thậm chí cả với việc đối mặt với nguy cơ xung đột vũ lực hoặc chiến tranh. Phải mềm dẻo trong giải quyết tranh chấp vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với các nước trong khu vực, bao gồm Trung Quốc. Nhấn mạnh yếu tố luật pháp quốc tế và thỏa thuận đa quốc gia. Phải tính tới nhân tố Mỹ trong việc tạo sức ép khiến Trung Quốc nhượng bộ, nhưng phải hết sức linh họat để không tạo cảm giác lạnh gáy cho Trung Quốc.

Chiến lược này, cần thực hiện nhất quán trên bình diện quốc gia cũng như những chính sách áp dung cụ thể tới từng đơn vị hành chính, từng chủ thể của nền kinh tế Việt Nam .

3. Viễn kiến quốc gia và trọng đãi nhân tài.

Mấu chốt để đảm bảo lợi ích của Việt Nam, thoát khỏi số phận nhược tiểu để không ai có thể đe dọa, là chúng ta phải mạnh về kinh tế, mạnh về quân sự và hòa hiếu về ngoại giao. Việt Nam chưa có hai nhân tố đầu, nhưng có thể đi trước ở nhân tố thứ ba, chúng ta phải đặt mình vào những mối quan hệ, những khối liên minh đa phương với toàn thế giới.

Đây là một thời khắc quan trọng của lịch sử, đòi hỏi trong bộ máy cầm quyền của Việt Nam phải có những cá nhân có phẩm chất, có tài năng và có tầm nhìn vượt xa hiện tại. Cần đến những con người viễn kiến. Ngòai ra, toàn bộ dân tộc Việt Nam cũng phải thống nhất một suy nghĩ, một nhận định, để đồng tâm nhất chí khai thác cơ hội hiện tại nhằm vựng dậy quốc gia. Yếu tố thứ hai có thể thực hiện được nhờ báo chí và tuyên truyền, riêng việc làm sao để bộ máy lãnh đạo Việt Nam thực sự xuất hiện nhân tài thì nói thật anh Lãng đéo có giải pháp nào cả :P. Nhân tài Việt Nam không thể chui vào hệ thống bằng bầu cử. Trong khi đó hệ thống chính trị Việt Nam hiện tại mất năng sàng lọc và trọng dụng nhân tài. Người Việt có tài giờ tòan làm kinh tế, lo làm giàu bản thân, chứ không muốn và cũng không thể len vào hệ thống chính trị.

Chừng nào mà lương bộ trưởng công khai chỉ có 2,5 tr đồng, làm bộ trưởng lương thấp thế làm làm đéo gì, có ai bị điên đâu. Cho nên việc ăn cắp công khai và tha hóa hệ thống là điều không thể tránh khỏi. Ở điểm này, anh đồng ý với nhận định của Geoge Onwell, theo đó hệ thống chính trị độc đảng đạo đức giả chỉ tạo điều kiện để những kẻ giỏi đấu đá và vô đạo đức leo cao, chứ không có chỗ cho những người có phẩm chất và có tài trị quốc.

Trong khi, hơn bất cứ lúc nào, với tình thế phức tạp hiện nay, Việt Nam cần đến những tài năng kiệt xuất lèo lái quốc gia.

Anh Lãng

Nhận định bình luận: Quan hệ Việt Mỹ – Từ góc nhìn Trung Quốc

On the net

Lôi kéo và gây sức ép luôn là phương châm cơ bản của Chính phủ Mỹ đối với Việt Nam từ 15 năm qua. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam gần đây đã tổ chức hội nghị liên tịch, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ và an ninh xã hội.

Không nên chỉ chú ý đến những lời đường mật của Ngoại trưởng Mỹ phát biểu tại Hà Nội hồi cuối tháng 7 vừa qua, mà còn phải thấy nước Mỹ và thế lực chính trị do Mỹ nuôi dưỡng đang ngấm ngầm muốn làm gì tại Việt Nam.

Xinhuanet – Việt Nam liệu có liên minh với Mỹ?

(Bài đăng trên mạng XINHUANET của tác giả Lăng Đức Quyền – nguyên Trưởng phân xã Tân Hoa Xã tại Hà Nội, hiện là Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế của THX, trực tiếp nghiên cứu vấn đề Việt Nam và quan hệ Trung – Việt)

TTXVN (Bắc Kinh 25/8)

Gần đây báo chí nói rất nhiều và bằng rất nhiều cách liên quan đến khả năng “Việt Nam và Mỹ liên minh với nhau đối phó với Trung Quốc”. Những dư luận như vậy tuy không dựa vào sự thật căn bản nhưng không phải hoàn toàn không có căn cứ.

Những thế hệ già trẻ lưu vong trung thành với chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũ vẫn còn nuôi giấc mộng “khôi phục chế độ”, “về lại quê hương”. Những người này không chỉ cực đoan căm thù Đảng Cộng sản Việt Nam, căm thù Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam, những người đó đã đánh đổ chúng, mà còn ghi xương khắc cốt thù hận Trung Quốc là người bạn đã ủng hộ Việt Nam giành thắng lợi trong chiến tranh chống Mỹ. Trước sau những người này vẫn nghĩ ông chủ cũ sẽ giúp họ trở lại nắm chính quyền, “giành lại những gì đã mất trong chiến tranh”. Nếu liên minh dựa vào Mỹ mà từ bỏ những thứ nói trên, liệu họ có còn hướng đi nào khác? Tuy nhiên, đám xác chết với những âm hồn tản mạn có được người Mỹ nhìn nhận trở lại như là “đồng minh” nữa hay khyoong? Có lẽ nhiều lắm cũng chỉ được coi là những tên lính hầu tiểu tốt mà thôi.

Còn có một số người Việt Nam phản bội, bỏ chạy khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam như Bùi Tín, Phó tổng biên tập cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, điên cuồng chống Cộng, mấy hôm trước còn ra sức kêu gào Việt Nam và “tất cả các quốc gia dân chủ” như Mỹ liên minh với nhau cùng chống lại “mối đe dọa từ Trung Quốc”.

Ở trong nước, Việt Nam cũng không phải không có người hoặc công khai hoặc ngấm ngầm chủ trương rước sói vào nhà. VIETNAMNET, một tờ báo mạng không thuộc dòng chính thống có thế mạnh ở Hà Nội từ đầu năm tới nay đã thông qua phương thức liên lạc, đối thoại với Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, đến phỏng vấn một số cựu quan chức ngoại giao cao cấp, tuyên truyền khuyến khích nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ, xây dựng “quan hệ đối tác chiến lược”, thậm chí thảo luận thăm dò khả năng liên kết thành “đồng minh” với Mỹ. Tuy nhiên, những quan chức tuy đã nghỉ hưu nhưng vẫn quan tâm tới chính trị nói trên vừa không đại diện cho Chính phủ của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa không phản ánh được ý nguyện của quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam là những người đã chịu nhiều hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhưng tại sao những người này lại ra sức cổ vũ, và lịch sử cũng như bối cảnh cá nhân của họ cũng là vấn đề rất đáng phải tìm hiểu.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam liệu có “liên minh” với Mỹ? Về lâu dài xin tạm gác lại, hãy nghe nhà lãnh đạo Việt Nam gần đây trịnh trọng tuyên bố và cam kết với thế giới:

– Trong bài phát biểu tại Hội nghị an ninh châu Á lần thứ 6 tổ chức ở Xinhgapo ngày 31/5/2009, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng (Ủy viên Bộ Chính trị TW ĐCSVN), tuyên bố nguyên tắc và lập trường của Việt Nam trong ngoại giao quốc phòng như sau: “Không liên minh quân sự, không liên kết với nước này chống lại nước khác, không cho phép nước ngoài xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, không chạy đua vũ trang, chỉ từng bước hiện đại hóa quân đội và tăng cường tiềm lực quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ quốc gia”.

– Ngày 14/8 năm này trong khi bày tỏ thái độ về những “vấn đề nóng” như sự kiện tàu chiến Mỹ tới thăm Việt Nam và quan hệ quân sự Việt – Mỹ, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã chính thức làm sáng tỏ và trình bày rõ như sau: “Một số đài báo phương Tây bình luận ầm ĩ, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ hải quân với Mỹ nhằm ‘cân bằng sức mạnh’ ở Biển Đông. Lối bình luận như trên không có căn cứ, thiếu hiểu biết về chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng tôi trước sau luôn thực hiện chính sách quốc phòng bảo vệ tổ quốc bằng cách dựa vào sức mình là chính. Chúng tôi luôn giữ quan điểm độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào nước này chống lại nước kia”.

Ở Việt Nam không phải không có sự khác biệt và tranh cãi trong rất nhiều vấn đề lớn, cũng không cần phải ngạc nhiên trước những hiện tượng khác biệt và tranh cãi nói trên. Nhưng các nhà nghiên cứu và những nhà quan sát có trách nhiệm tuyệt đối không thể phóng đại vô hạn độ những thông tin mà một số người cố ý tạo ra với thái độ thiếu khách quan và không nghiêm túc, mà cần nhìn nhận những thông tin chuẩn xác và có độ tin cậy cao. Nếu nhào nặn tô vẽ, dùng tin đồn chuyển tải tin đồn, dẫn dụng phóng đại sẽ chỉ khiến công chúng hiểu sai vấn đề, gây hậu quả xấu cho toàn bộ công tác đối nội đối ngoại, mức độ tai hại sẽ rất khó lường!

Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 năm 1986 đến nay, Việt Nam đã từng bước thay đổi đường lối đối ngoại liên minh với Liên Xô, “nghiêng hẳn” về Liên Xô mà các nhà lãnh đạo trước đó một thời thực hiện, chuyển sang đường lối ngoại giao “độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế”, “làm bạn với các nước trên thế giới”, “tranh thủ môi trường quốc tế hòa bình ổn định”. Năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ giữa hai đảng hai nước, năm 1955 Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập khối ASEAN, tích cực phát triển quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế trên thế giới.

Gần đây, trong bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam cùng các bài viết đăng trên các báo lớn có uy tín ở Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh chính sách đối ngoại của Việt Nam: “Thi hành nguyên tắc độc lập, tự chủ, hòa bình và hợp tác, phát triển đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, tích cực chủ động hội nhập quốc tế; vừa là bạn đáng tin cậy vừa là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; phấn đấu cho một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”.

Trên thế giới, bất cứ quốc gia có chủ quyền nào cũng đều có quyền lựa chọn chế độ xã hội và chính sách đối nội đối ngoại của mình. Các nhà quan sát và nhà bình luận về các vấn đề quốc tế cần quan sát chính sách đối ngoại của một quốc gia một cách nghiêm túc và khách quan, nhận thức rõ đầu đuôi ngọn nguồn, phải trái trắng đen, phân biệt rõ đâu là mạch chính, đâu là mạch nhỏ, đâu là tiếng nói chủ yếu, đâu là tạp âm từ những tiếng nói khác nhau trong nội bộ một quốc gia. Đối với Việt Nam đương nhiên cũng không thể ngoại lệ.

Chính quyền và chế độ xã hội ở Việt Nam hiện nay là do Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đã lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam trải qua mấy chục năm phấn đấu gian khổ bằng xương máu mới giành lại được. “Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” là sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam. Mọi nước trên thế giới đều phải tôn trọng sự lựa chọn đó của nhân dân Việt Nam.

Mỹ và Việt Nam từng là “kẻ thù không đội trời chung” đánh nhau suốt mười mấy năm. Dòng thác lớn của thế giới ngày nay là hòa bình, hợp tác, phát triển. Việc “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” của hai “kẻ thù cũ” nói trên không những có lợi cho nhân dân hai nước, mà còn có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực. Trên thực tế, quan hệ Trung – Mỹ từ khi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc năm 1972 đến nay về đại thể cũng chẳng giống như vậy đó sao?

Là hai láng giềng núi sông liền một dải, việc người Trung Quốc quan tâm những thay đổi trong quan hệ Việt – Mỹ, và người Việt Nam quan tâm những thay đổi trong quan hệ Trung – Mỹ đều rất đỗi tự nhiên như vậy. Mọi người chúng ta không nên nhìn nhận một số biểu tượng trong quan hệ Việt – Mỹ một cách phiến diện và đơn giản hóa. Nhắm mắt làm ngơ trước sự thay đổi trong quan hệ Việt – Mỹ là điều ngốc nghếch, đánh giá quá mức mức độ quan hệ Việt – Mỹ cũng sẽ gây phức tạp cho chính mình.

Về mặt xử lý quan hệ song phương, Việt Nam và Mỹ có lợi ích chung nhưng mục tiêu và xuất phát điểm không giống nhau. Mọi người gần đây đã thấy một số biểu hiện nổi bật về sự “ấm lên” trong quan hệ Việt – Mỹ, nhưng thử hỏi mọi người có thấy Chính phủ Mỹ, chính khách Mỹ và các báo lớn ở Mỹ có ngừng lợi dụng “dân chủ”. “nhân quyền”, “tự do tôn giáo” và “tự do báo chí” để ngang ngược công kích Đảng Cộng sản Việt Nam hay Chính phủ Việt Nam hay không? Một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ gần đây còn lên tiếng ầm ĩ đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách đen với các “quốc gia đi ngược lại tự do tôn giáo” do Chính phủ Mỹ tự đặt ra!

Có một chủ đề vẫn luôn được các nhà lãnh đạo và dòng báo chí chủ lưu của Đảng, của quân đội Việt Nam tuyên truyền từ rất nhiều năm nay là đề phòng và chống lại âm mưu gây “cách mạng màu sắc”, “diễn biến hòa bình và tự diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch. Những vụ án cũng như sự thực về việc can thiệp thô bạo vào các công việc nội bộ của Việt Nam được báo chí chủ lưu công khai đưa tin cũng đủ khiến người ta phải giật mình, hơn nữa đó cũng chỉ là một phần chứ hoàn toàn không phải toàn bộ.

Lôi kéo và gây sức ép luôn là phương châm cơ bản của Chính phủ Mỹ đối với Việt Nam từ 15 năm qua. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam gần đây đã tổ chức hội nghị liên tịch, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ và an ninh xã hội.

Không nên chỉ chú ý đến những lời đường mật của Ngoại trưởng Mỹ phát biểu tại Hà Nội hồi cuối tháng 7 vừa qua, mà còn phải thấy nước Mỹ và thế lực chính trị do Mỹ nuôi dưỡng đang ngấm ngầm muốn làm gì tại Việt Nam.

Trở lại chủ đề bài viết qua dòng tựa đề nói trên – Việt Nam liệu có liên minh với Mỹ? Người nhiều tư cách nhất có thể trả lời câu hỏi này là thực thực, là người lãnh đạo và nhân dân hai nước Việt – Mỹ, mà các vị độc giả cũng không khó để đưa ra được những nhận định và kết luận của riêng mình./.

Nguồn: Anhbasam.com