Góc nhìn: Trung Quốc – Lộ nguyên hình là một kẻ sở khanh lòng lang dạ thú

On the net

Với những hành động cắt cáp thăm dò dầu khí của tầu Bình Minh 2 khi tầu đang hoạt động trong vùng biển 200 hải lý thuộc hải phận Việt Nam, và rồi trắng trợn đổi trắng thay đen ra điều lên án Việt Nam gây hấn, Trung Quốc đã tự lộ nguyên hình là một kẻ sở khanh lòng lang dạ thú.

Biển Đông – Bài toán khó nhưng đã hóa giải được một phần

Thời gian qua Trung Quốc ngang nhiên cho tầu hải quân bắn dọa quấy nhiếu các tầu cá Việt Nam khi bà con đang đánh bắt cá trong vùng hải phận của Viêt Nam. Đây là những dấu hiệu hiếu chiến bất chấp lẽ phải đúng sai cố tình gây hấn từ phía Trung Quốc.

Mặc dù chưa thể có những biện pháp hữu hiệu hóa giải vận hạn, nhưng những gì đang thể hiện trên báo chí cho thấy một ngoại lực mới đã nhập nội vào tâm trí người dân Việt Nam để giải thoát cho họ khỏi “bùa ma hiểm” bị Trung Quốc “yểm” lâu nay.

Các “đồng chí” Trung Quốc rất giỏi trong việc “khóa mồm” thiên hạ. Trong mọi vấn đề Trung Quốc đều tính toán rất bài bản và kỹ lưỡng đến độ kẻ bị hại không dám kêu, mà nếu có kêu thì cũng có biết kêu ai. Với cảm giác lờ mờ về tình hữu nghị, người Việt Nam nghi ngại lẫn nhau tránh né nói lên sự thật về Trung Quốc.

Năm 1946, lấy cớ giải giáp phát xít Nhật, Trung Hoa Quốc Dân Đảng đã đánh chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19/1/1974, lợi dụng thời điểm khó khăn của Việt Nam, một lực lượng lớn hải quân Trung Quốc đã bất ngờ đánh chiếm tất cả các hòn đảo của quần đảo Hoàng Sa do chính quyền Sài Gòn kiểm soát.

Trung Quốc đã tính toán rất chính xác thời điểm để tấn công cướp đảo, bởi trong bối cảnh nhập nhèm “bạn thù” và trong thời khắc quan trọng tất cả phải dồn cho cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, chính phủ Việt Nam, mặc dù rất phẫn nộ nhưng không thể ra tuyên bố lên án họ. Một lần nữa Trung Quốc thành công trong việc “khóa mồm” người bạn “môi hở răng lạnh”.

Vào năm 1979, Trung Quốc sau khi lên kịch bản cho Ponpot gây hấn khiến cho Việt Nam phải tập trung quân để bảo vệ biên giới phía Nam, thì Trung Quốc đã xua quân tấn công các tính phía Bắc của Việt Nam. 10 năm sau, đúng lúc Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, phần bị cấm vận, phần vì Liên Xô – liên minh chiến lược của Việt Nam – bị tan rã; tháng 3/1988, Trung Quốc ngang nhiên tấn công chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Mặc dù Việt Nam ra sức chiến đấu để bảo vệ biển đảo, và về mặt ngoại giao đã lên án hành động xâm lược này của Trung Quốc, nhưng khó có quốc gia nào trên thế giới hiểu được sự tình, bởi Việt Nam vẫn đang bị bóng đè từ phía các đồng chí cùng chí hướng xã hội chủ nghĩa Trung Quốc.

Trước những sự kiện như vậy, người dân Việt Nam không khỏi không căm thù Trung Quốc. Tuy nhiên chỉ vài năm sau đó, trên tất cả các kênh truyền hình Việt Nam đều chiếu phim Trung Quốc, chiếu ngày chiếu đêm, chiếu liên tục trong hàng chục năm trời, và nội dung của tất cả các phim này chỉ xoay quanh một điều là nhồi nhét vào đầu người xem thông điệp “Vua Trung Quốc là người nhân từ và đại diện cho lẽ phải”. Người dân phẫn nộ, nhưng không một ai dám đặt vấn đề nghi ngờ có bàn tay khống chế của Trung Quốc?

Cuộc xâm lăng văn hóa này không phải không có tác dụng. Người ta đã nghĩ đến một tình hữu nghị mới giữa hai dân tộc, và luôn tránh né mọi nguyên cớ dẫn đến sự đổ vỡ. Sự tránh né còn được thể hiện trong việc có biết bao nhiêu hàng dởm “made in China”, biết bao nhiêu hoa quả có hóa chất độc hại tràn vào Việt Nam, nhưng thay vì chính phủ phải lên tiếng thì chỉ khuyến cáo người dân Việt Nam thận trọng, còn người dân cũng chỉ còn cách tự trách mình mỗi khi bị lừa.

Với những sự chuẩn bị tinh thần “Vua Trung Quốc đại diện cho lẽ phải”, Trung Quốc đã tính bài tìm cớ gây hấn, nhằm đổ vấy trách nhiệm “đạo đức” lên nhà nước Việt Nam. Trải qua hàng nghìn năm chiến đấu chống lại quân xậm lược Trung Quốc, người dân Việt Nam không dễ bị mắc lỡm. Nếu Trung Quốc dám liều lĩnh gây hấn tấn công Việt Nam tức là nó đã vứt bỏ những chiếc lá nho đạo đức cuối cùng để hiện nguyên hình là một kẻ xâm lược Đại Hán.

Trước những hành động ngang ngược của Trung Quốc ở biển Đông như hiện nay, mặc dù Việt Nam đã lên tiếng phản đối nhung sự ủng hộ từ các nước lớn trên thế giới chưa thực sự mạnh. Điều này một phần là do bản thân sự việc quá phức tạp và trong nhiều năm trước đây Trung Quốc đã thành công trong việc “khóa mồm” hạn chế sự phản ứng từ phía Việt Nam; một phần là do sự nham hiểm của Trung Quốc được thể hiện trong việc tính toán thời điểm động binh. Các nước lớn trên thế giới đang lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế. Cuộc chiến Trung Đông và Bắc Phi đang làm đau đầu Mỹ và NATO.

Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù thế chủ động gây hấn nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc, nhưng nhiều người vẫn đang còn luẩn quẩn trong cái vòng kiểm tỏa của khái niệm ý thức hệ, khiến cho khả năng nhận thức bị tê liệt.

Cần phải hiểu là có một sự khác biệt giữa một bên là phương thức sản xuất và một bên là tình hữu nghị.

Những giá trị khoa học đích thực từ kinh nghiệm phát triển đất nước thì cần phải học. Nhưng chắc chắn người dân Việt Nam không muốn vì tình “hữu nghị” mà bị xỉ nhục, mà chịu kiếp nô lệ, bị cướp mất biển Đông, mất cơ hội trở nên hùng mạnh.

Trước những thái độ ngang ngược và hiếu chiến của Trung Quốc, nhiều người dân Việt Nam không khỏi không lo lắng cho vân mệnh dân tộc. Tuy nhiên cũng cần phải nhận thấy một điều là, bằng chính những tuyên bố cứng rắn đáp lại những hành động ngang ngược của Trung Quốc, người Việt Nam đã dũng cảm xé toạc bức màn “u mê”, để nói lên tiếng nói của chính mình với thế giới và đó là bước đầu tiên để giữ gìn được sự vẹn toàn biển đảo giữ gìn độc lập dân tộc.

Sóng Ngầm

Theo VIT

Tài liệu: Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý hay 188 hải lý?

On the net

Chú giải

Hải lý: Nautical miles
Đất liền: Land
Đường cơ sở: Baseline
Vùng nội thủy: Internal Waters
Vùng chạy dọc theo đường bờ biển
Lãnh hải: Territorial waters
12 hải lý tính từ đường cơ sở
Vùng tiếp giáp lãnh hải: Contiguous Zone
12 hải lý tính từ mép ngoài lãnh hải
Vùng đặc quyền kinh tế: Exclusive Economic Zone
200 hải lý từ đường cơ sở
Thềm lục địa: Continental shelf
Vùng biển quốc tế: International waters

Hiến pháp đã quy định: “Lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”

Riêng đối với biển, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, tính từ đất liền trở ra lần lượt có các vùng biển sau đây:

1. Sát bờ biển là nội thủy (internal waters) còn gọi là “vùng nước nội địa”. Đó là vùng nước sát dọc theo bờ biển, bao gồm các vùng cảng biển, vũng tàu, cửa sông, cửa vịnh…

2. Ngoài nội thủy là lãnh hải (territorial sea). Đó là vùng biển tiếp liền với nội thủy, bản thân nó rộng không quá 12 hải lý (mỗi hải lý bằng 1.850 m). Đường phân chia giữa nội thủy và lãnh hải gọi là đường cơ sở (baseline). Đường cơ sở rất quan trọng vì đó là ranh mốc chuẩn để tính bề rộng 12 hải lý của lãnh hải, đồng thời cũng là mốc chuẩn để tính bề rộng của các vùng biển tiếp liền ngoài.

Nội thủy và lãnh hải là hai vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia ven biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải chạy song song với đường cơ sở được coi là đường biên giới quốc gia trên biển.

3. Bên ngoài giáp với lãnh hải là vùng tiếp giáp lãnh hải (contiguous zone). Phạm vi vùng này không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở, tức 12 hải lý tính từ ranh ngoài của lãnh hải.

Biểu đồ chú giải

https://i2.wp.com/upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9c/Zonmar_vi.svg/402px-Zonmar_vi.svg.png

Như vậy bề rộng của lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải bằng nhau.

Có thể nói vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng “trái độn” để tàu thuyền nào có vi phạm luật lệ về hải quan, thuế, nhập cư… thì đưa đến vùng này để kiểm soát, xử lý.

4. Vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải gọi là vùng đặc quyền kinh tế (exclusive economic zone). Bề rộng vùng này không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Đây là vùng biển tuy không thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển nhưng nó lại có quy chế đặc biệt về mặt kinh tế vì ở đó quốc gia ven biển có một số quyền chủ quyền.

5. Thềm lục địa (continental shelf) nói nôm na là cái nền thềm của lục địa. Đó là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, nằm bên ngoài đáy lãnh hải. Bề rộng của thềm lục địa về nguyên tắc, tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở và thực tế có khi còn có thể mở rộng ra thêm nữa. Như vậy xét riêng phạm vi này, phần nước biển bên trên gọi là vùng đặc quyền kinh tế, còn phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển đó là thềm lục địa.

Ra xa ngoài năm vùng biển kể trên là biển cả (high sea) còn gọi là biển quốc tế hay biển tự do. Ở đó, quốc gia ven biển không có quyền gì nữa, tất cả quốc gia đều được tự do đi lại, tự do đánh bắt hải sản… Tài nguyên dưới đáy biển tự do là tài sản chung của nhân loại.

Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý hay 188 hải lý?

Huỳnh Huy Bích (286/8 Minh Phụng, phường 2, quận 11, TP.HCM)

+ Theo Điều 3 và Điều 57 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng quy định đều được tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển, lần lượt là 12 hải lý và 200 hải lý. Trên thực tế, khoảng rộng ấy của vùng đặc quyền kinh tế có phần bên trong nằm trùng chồng lên phạm vi lãnh hải, nên nếu tính riêng vùng đặc quyền kinh tế thì nó chỉ còn rộng có 188 hải lý thôi.

TS PHAN ĐĂNG THANH

Tài liệu: Sự thật về cái chết của Stalin

On the net

Sự thật về cái chết của Stalin

Gần 50 năm sau ngày mất của Stalin, sự thật mới được trả lại đúng như nó đã diễn ra. Những người chứng kiến nay khẳng định Stalin mất vào đêm 1, rạng ngày 2.3, chứ không phải như lâu nay được công bố chính thức là đêm 4, rạng ngày 5.3.1953.

Gennadi Colomensev là ai?

Gennadi Nicolaevich Colomensev sinh năm 1923 tại làng Kratovo trong gia đình một nhân viên đường sắt. Ông từng làm việc tại Tổng cục bảo vệ (GUO). Thoạt đầu ông làm nhân viên đội 6, đảm bảo cấp dưỡng và phục vụ những người đứng đầu Nhà nước. Trong hệ thống đó, ông làm việc khoảng 38 năm, từ thời Stalin đến thời Gorbachev. Ông đã làm chỉ huy bếp ăn đặc biệt, đảm bảo những cuộc chiêu đãi, các bữa ăn của các vị lãnh đạo Đảng.

Theo công bố chính thức vẫn được coi là “chính sử” lâu nay, ngày 1.3.1953 tại nhà nghỉ ở Volynsky, Stalin trải qua cơn đột quỵ nhồi máu, nhưng phải qua đêm 4.3, ngày 5.3 Stalin từ trần. Tất cả những gì trái với điều “TASS được quyền tuyên bố” này, đều bị coi là “phụ sử”, thậm chí bị bưng bít, không ai biết đến.

Tại sao phải “lùi” ngày mất của Stalin?

Nay, một trong những người từng chứng kiến chuyện này đã nói ra sự thật. Gennadi Colomensev, người chỉ huy Căn cứ đặc biệt chuyên cấp dưỡng cho các nguyên thủ quốc gia, kể lại chuyện của người bạn ông, Ivan Orlov, người quản lý nhà nghỉ của Stalin ở Volynsky.

Theo lời G. Colomensev, Orlov đã kể về chuyện này: “Mỗi lần tới nhà nghỉ này, Stalin có thói quen uống trà rồi sau đó về phòng mình, đóng cửa lại. Không ai được vào nếu không có chuông gọi. Vào đêm Người ra đi, đã không có một tiếng chuông nào. Đến sáng, thời gian xích dần tới: 10 giờ,11 giờ… vẫn yên ắng. Đội cảnh vệ rất lo lắng. Họ gọi đến Tổng cục… không có, gọi đến Cục 9. Họ cùng nhau mở cửa: Stalin nằm trên nền nhà, cạnh chiếc đi-văng, nơi Người thường ngủ. Người đã nằm chết trên nền nhà”.

Có nghĩa là lúc ấy Người đã chết thật rồi?

Chết thật rồi!

Người ta nói rằng mấy ngày sau Người mới chết…

“Không, không đâu, lúc ấy Người đã chết hẳn rồi. Tất cả những lời bàn tán và những thông tin trên báo chí đều vô lý. Người đã chết hẳn rồi. Hết!”.

G. Colomensev kể: Orlov cho tôi biết chuyện cơ mật này chỉ vì tình bạn bè, khoảng một tháng sau khi chôn cất xong Stalin.

Tại sao đội phục vụ Stalin phải ra đi?

Colomensev kể tiếp: “Khi Stalin chết, Beria (phó CT thứ nhất HĐBT LX (Chính phủ), Ủy viên ĐCT BCH TW, Bộ trưởng Nội vụ (Công an) đã cho cả đội phục vụ Stalin “chuyển công tác”. Mỗi người đi mỗi ngả! Bà quản gia duy nhất, Valia Istomina, được cho về hưu! Bà ấy chính là người đã lau rửa thân thể Stalin trước khi đặt Người vào quan tài. Hồi thiếu nữ bà ấy có tên Zhmychkina. Hai người em của bà ấy làm việc tại đội 6 trên căn cứ 501, mà sau này tôi làm chỉ huy.

Đó là một căn cứ đặïc biệt chuyên đảm bảo cấp dưỡng cho các vị lãnh đạo Đảng và Chính phủ và những vị khách nước ngoài quan trọng. Có phòng thí nghiệm đặc biệt chuyên dụng để kiểm tra tất cả các sản phẩm. Và người ta còn nói rằng, ở đó họ có thể đầu độc một người nào đó, một điều phi lý hoàn toàn. Điều này 100% được loại bỏ. Tôi đã thử nếm tất cả. Thấy không! Tôi vẫn sống đến tận bây giờ. Tôi biết Stalin là người không nghiện rượu. Ở hầu hết các cuộc tiếp đón và chiêu đãi của Stalin, tôi thường có mặt ngay từ đầu, chưa bao giờ tôi thấy Người dù say, dù chỉ hơi hơi. Người chỉ cho phép mình uống hai chum nhỏ cô nhắc loại Gruzia. Chúng tôi chuyên mua cho Người loại rượu nhà tự làm của 3 người nông trang Gruzia. Tôi nhất định phải thử uống trước để tránh tai họa.

Những kỷ niệm khó quên

Tôi đã nhìn thấy Stalin rất nhiều lần. Lần gặp đầu tiên tôi đang mang chiếc quần xà lỏn, không nghĩ rằng mình đang đứng trước vị lãnh tụ. Lần cuối cùng tôi gặp Stalin lúc Người đến Kavkaz nghỉ vào mùa hè năm 1951. Ba người chúng tôi đang câu cá, và đang còn mặc quần xà lỏn, bất ngờ Stalin bước tới, nói: “Chào các “ngư dân”! Được mẻ cá nào chưa?”. Suốt đời tôi không thể quên được ánh mắt của Người lúc đó. Đôi mắt ấy không to, màu nâu sẫm, có những chấm lốm đốm. Khuôn mặt Người đầy đặn, có một vài nốt rỗ hoa to. Bộ ria mép đã có những sợi bạc. Trong chân dung, bộ ria lại luôn đen, mà ở đây đã có ánh bạc.

Chuyện kể của G.N. Colomensev đặc biệt gây ấn tượng đoạn về cái chết của Stalin. Đến tận bây giờ, “chính sử” vẫn cho rằng đội bảo vệ đã tìm thấy Người trong trạng thái nửa bất tỉnh.Và sau đó Người đã chết một cách khó khăn và kéo dài (chết dần) từ mùng 1 – mùng 5.3.1953.

Quả thật trong tất cả những thông báo chính thức và không chính thức đã được ban hành về sự từ trần của vị lãnh tụ có quá nhiều điều không ăn khớp. Chẳng hạn, một loại tư liệu cho biết: Stalin chết bệnh tại căn hộ ở Moskva; loại khác lại cho rằng Stalin mất tại nhà nghỉ ở Volynsky. Một nhóm người (Sepilov, Volkogonov…) lại xác nhận: Stalin đã từ trần vào buổi sáng, người khác (Ragzinsky) lại nói vào buổi tối.

Trong các sách lịch sử, những việc này được ghi nhận và đem giảng dạy: việc bổ nhiệm lãnh đạo mới của đất nước diễn ra vào ngày 6.3; trong nhật ký tài liệu lưu trữ, văn bản nêu việc bổ nhiệm được tiến hành từ ngày 3-5.3, cứ như Stalin còn sống và ký các văn bản.

Tại sao Stalin phải “chết lùi” lại vài ngày? Các nhà sử học giải thích: đó là thời gian cần thiết để các vị đứng đầu Nhà nước lúc đó có thời gian phân chia quyền lực.

Những lý giải đó đang được chứng minh. Hồi tưởng của giáo sư y tế Myasnicov: “Malenkov (CTHĐBT kế vị sau Stalin) cho chúng tôi hiểu rằng ông ta hy vọng các biện pháp y học sẽ có thể kéo dài sự sống của người bệnh thêm một thời gian vừa đủ. Tất cả chúng tôi hiểu rằng, ông nói về thời hạn cần thiết để tổ chức chính quyền mới và chuẩn bị dư luận xã hội”.

Thế tại sao chính sử lại viết rằng Stalin chết từ từ trong khắc khổ, kéo dài vài ngày?

Hồi tưởng đó liên quan đến một người giống Stalin như đúc đã được Lavrenty Beria ủy thác đóng vai vị lãnh tụ đang chết dần. Những người gần gũi hằng ngày với Stalin như bà quản gia Valia Istomina không phát hiện ra (hoặc làm ra vẻ không phát hiện ra?) sự đánh tráo.

Tài liệu Đại hội ĐCS LX lần thứ 19 đã ghi nhận cuộc tranh giành quyền lực diễn ra vào năm 1952 trầm trọng như thế nào. Chính Stalin 73 tuổi, lúc đó đã không nói thẳng ai sẽ kế vị sau mình. Sự ra đi đột ngột của Người là một cú sốc cho những người “bạn” như Beria, Malenkov, Khrusev và Bulganin cũng như cho chính những người bạn chiến đấu “bị ruồng bỏ” như: Molotov, Kaganovich, Mikoyan, Zykov…

Ưu thế rõ ràng đã thuộc về bộ tứ “những người bạn” cùng với những người cuối cùng đến gặp Stalin. Chính họ được đội bảo vệ Stalin thông báo về những gì đã xảy ra.

Trước tiên đó là những người của Khrusev và Bulganin; có thể có cả Bộ trưởng An ninh Quốc gia (MGB) Ignachev. Họ là những người phân chia những cương vị chủ chốt lãnh đạo đất nước.

Việc Stalin “đang hấp hối” thúc đẩy quyết định chính thức về việc bổ nhiệm lãnh đạo mới. Tối 5.3, lúc 20 giờ 40 phút, kết thúc phiên họp của BCH TW, HĐBT và Đoàn CT XVTC Liên Xô. 21 giờ 50 phút, khi các nhà lãnh đạo mới đến “thăm và báo cáo” với Stalin tại nhà nghỉ, nơi Stalin “vẫn còn sống” và “đang hấp hối”. Màn kịch này được “đạo diễn” để chứng minh rằng ban lãnh đạo mới đã được Stalin “phê duyệt” vào phút chót, dù lúc đó Người “đang rất mệt”.

“Những người bạn” chia quyền lực như thế nào?

Kèm theo đây là trích đoạn từ biên bản của kỳ họp toàn thể BCH TW ĐCS LX, HĐBT LX và Đoàn CT XVTC LX vào ngày ngày 5.3.1953. Có hai điểm được chú ý. Một là, nếu tin vào giả thiết của G.Colomensev (giả thuyết Stalin chết ngay đêm mùng 1.3), tại thời điểm diễn ra những lời tuyên bố sau đây, thì Stalin đã chết được 4 ngày rồi. Hai là, một vài đoạn văn được trích dẫn đã định sẵn toàn bộ lịch sử Liên Xô tiến lên phía trước tới 30 năm.

“Đ/c Khrusev làm Chủ tịch Đại hội. Đ/c Khrusev giới thiệu Bộ trưởng Bộ Y tế Liên Xô Trechyakov thông báo tin tức về trạng thái sức khỏe của đồng chí I.V. Stalin.

Sau đó, giới thiệu lời Beria. Đ/c Beria nói Bộ chính trị đã bàn luận kỹ lưỡng bối cảnh đang tạo ra trong nước ta liên quan tới việc lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ vắng đồng chí Stalin. Bộ chính trị cho rằng cần thiết phải bổ nhiệm Chủ tịch HĐBT LX. Bộ chính trị đưa ra đề nghị bổ nhiệm đ/c Malenkov G.M giữ chức Chủ tịch HĐBT Liên Xô.

Sau đó đ/c Khrusev giới thiệu lời đ/c Malenkov. Đ/c Malenkov theo nhiệm vụ được giao của Bộ chính trị đưa ra những đề nghị sau đây:

1. Bổ nhiệm các Phó chủ tịch thứ nhất HĐBT LX là các đ/c Beria L.P., Molotov V.M., Bulganin N.A., Kaganovich L.M. (nhiều tiếng hô từ các chỗ ngồi: “Đúng! thông qua”).

4. Hợp nhất Bộ An ninh Quốc gia LX và Bộ Nội vụ LX thành một bộ – Bộ Nội vụ LX. Bổ nhiệm Bộ trưởng Nội vụ LX: đ/c Beria L.P.

5. Bổ nhiêm đ/c Molotov làm Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô.

6. Bổ nhiệm nguyên soái Liên Xô, đ/c Bulganin N.A. giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Nguyên soái LX đ/c Vasilevsky A.M và nguyên soái LX đ/c Zykov G.K giữ chức Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng LX.

13. Thông qua thành phần sau đây của Đoàn chủ tịch BCH TW ĐCS LX: các ủy viên Đoàn chủ tịch BCH TW – là các đ/c Stalin I.V., Malenkov G.M., Beria L.P., Malotov V.M., Volosilov K.E., Khrusev N.S., Bulganin N.A., Kaganovich L.M., Mikoyan A.I., Perbukhin M.G.

16. Khẳng định điều cần thiết để đ/c Khrusev tập trung trong công việc ở BCH TW, và do đó ông thôi giữ chức Bí thư thứ nhất Đảng bộ Moskva.

17. Các đ/c Ponomarenko P.K và Ignatov N.G. thôi giữ chức Bí thư TW vì chuyển sang công việc lãnh đạo trong HĐBT LX và đ/c Breznhev L.I chuyển sang làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Hải quân.

Sau đó đ/c Malenkov thông báo: Bộ chính trị giao nhiệm vụ cho các đ/c Malenkov, Beria và Khrusev áp dụng các biện pháp để những văn kiện và giấy tờ của đ/c Stalin có hiệu lực, cũng như các tài liệu lưu trữ được thực hiện trong trình tự cần thiết.

Đ/c Khrusev hỏi: các đ/c có câu hỏi nào không? (Những tiếng hô đồng thanh từ các vị trí: “Đồng ý và thông qua các đề nghị của Bộ chính trị”).

Đ/c Khrusev tuyên bố bế mạc hội nghị.

Lễ an táng thứ hai cho Stalin

Vào năm 1961, tướng Nicolai Zakharov lãnh đạo Cục 9 KGB, một đơn vị không chỉ bảo vệ các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước mà còn làm những việc được “giao phó thật khó sử và đầy trách nhiệm”.

Sau Đại hội ĐCS Liên Xô lần thứ 22, Zakharov lãnh đạo “chiến dịch đưa thi hài Stalin” ra khỏi Lăng. Theo công việc, chính ông đã đóng chiếc đinh cuối cùng vào quan tài “người cha nhân dân”. Tướng Nicolai Zakharov kể lại việc này diễn ra như thế nào.

Những năm sau Đại hội Đảng 20 là thời kỳ kinh hoàng biết bao. Sự phê bình tệ sùng bái cá nhân vẫn đang tiếp diễn, nhưng tính tích cực của các nhà hùng biện chưa nổi rõ như vài năm sau đó. Sự sợ hãi dường như bất ngờ giảm sút sau tấm chấn song, nhưng chưa biến mất hẳn trong những tầng lớp trên của xã hội. Đất nước cần thiết phải vượt qua “nỗi sợ hãi quay về” với quá khứ. Và khi đó N.S. Khrusev đã quyết định đưa Stalin ra khỏi Lăng.

Chiếc quan tài dành cho “người cha nhân dân”

Tướng Nicolai Zakharov kể: Chúng tôi cùng với Tư lệnh Bộ đội bảo vệ Lăng, trung tướng Bengeninyu đã biết về một quyết định được chuẩn bị từ trước. N.S. Khrusev gọi chúng tôi đến và nói:

Xin được nói ngay rằng, hôm nay có khả năng đưa ra quyết định về việc an táng lại Stalin. Vị trí đã được ấn định. Tư lệnh Lăng biết chỗ đào huyệt, N.S. Khrusev bổ sung thêm. Bằng quyết định của Đoàn Chủ tịch BCH TƯ ĐCS Liên Xô, một phái đoàn gồm 5 thành viên đã được thành lập, đứng đầu là Shvernik: Mzhavanadze – Bí thư thứ nhất TƯ ĐCS Gruzia, Dzhanvakhishvily – CTHĐBT Gruzia, Shelepin – CTKGB, Demichev – Bí thư thứ nhất Thành ủy Moskva và Dyugai – Chủ tịch BCH Hội đồng Moskva. Tiếp theo, Shvernik tập hợp chúng tôi lại và gợi ý tổ chức bí mật việc an táng lại như thế nào.

(Theo Quốc tế)

Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Góc nhìn: Phòng chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá

On the net

Phòng chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá

Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng đề ra từ Đại hội VI đến nay, tình hình chính trị-xã hội nước ta cơ bản ổn định, kinh tế-văn hoá phát triển, mức sống của đại bộ phận nhân dân tăng lên rõ rệt, hệ thống chính trị được củng cố một bước, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng, lòng tin của dân đối với Đảng về sự nghiệp đổi mới được tăng cường.

Tuy nhiên, trong thời gian đó cũng nảy sinh những phức tạp mới như: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, mở cửa một mặt đã phát huy tính tích cực, năng động sáng tạo của công dân, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng; nhưng mặt khác cũng nảy sinh những tiêu cực: xã hội bị phân cực giàu nghèo, môi trường văn hoá-xã hội bị ô nhiễm, tội phạm gia tăng, các tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông không giảm, nhất là sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Trong đó, nổi lên vấn đề nhức nhối trở thành nguy cơ đe dọa sự mất còn của Đảng là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết,…

Lợi dụng những phức tạp của tình hình, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối trong nước phối hợp chặt chẽ với các thế lực thù địch ở bên ngoài cho rằng, “thời cơ đã đến” nên chúng đẩy mạnh các hoạt động đòi đa nguyên, đa đảng, ra báo tư nhân, xuất bản tư nhân; đòi xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, đòi xét lại các vụ án trong lịch sử, vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ Đảng và Nhà nước… Các lực lượng phản động trong các tôn giáo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số được sự chỉ đạo và hậu thuẫn ở bên ngoài, đã kích động xu hướng ly khai, thực hiện các hoạt động khủng bố, bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên vừa qua.

Nhằm thực hiện âm mưu lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam, các thế lực thù địch đã thực hiện ”diễn biến hoà bình” (”ĐBHB”) phá hoại ta về: chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, xã hội, ngoại giao, khoa học, giáo dục và khi cần, có thể cả biện pháp quân sự. Song, trọng tâm chủ yếu vẫn là phá hoại ta về tư tưởng văn hoá. Đó là “mũi đột phá” có khả năng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng và lý luận, gây chia rẽ, hoài nghi giữa Đảng và nhân dân, tạo ra khoảng trống về tư tưởng, tiến tới xoá bỏ hệ tư tưởng XHCN.

Các thủ đoạn “DBHB” chính đã được các thế lực thù địch dùng để chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng-văn hoá vừa qua như:

– Tiến công vào nền tảng tư tưởng, cương lĩnh của Đảng, hiến pháp và chính sách của Đảng và Nhà nước.

Một số người viết sách, báo, tài liệu và lợi dụng các diễn đàn hội thảo tuyên truyền các quan điểm dân chủ tư sản, các khuynh hướng cơ hội chính trị: đòi từ bỏ mục tiêu XHCN lùi về giai đoạn dân chủ nhân đân, bôi đen CNXH hiện thực, phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận lịch sử đấu tranh của Đảng và nhân dân ta, ca ngợi và công khai hô hào đi theo con đường tư sản …

– Chúng sử dụng một số người trong nước có tham gia kháng chiến trước đây, nay dao động, bất mãn đòi bác bỏ toàn bộ chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng đòi Đảng từ bỏ quyền lãnh đạo, đòi bỏ Điều 4 của Hiến pháp; đòi tự do dân chủ vô độ; tố cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tư tưởng người khác chính kiến… Vào những thời điểm Đảng chuẩn bị đại hội, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối phối hợp cùng lực lượng thù địch bên ngoài, đã biên soạn, tán phát nhiều loại tài liệu chống phá Đảng. Nhà nước… bằng nhiều phương tiện in ấn, sao chụp, truyền dẫn hiện đại đến từng cơ quan, từng nhà dân hoặc cả cán bộ.

– Lợi dụng những khuyết tật của ta mà phê phán, lên án, đấu tranh như: tham nhũng, quan liêu, tệ nạn xã hội, những vụ án liên quan đến cán bộ vi phạm… để bôi đen bức tranh xã hội, gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân; đáng chú ý là, các phần tử cơ hội chính trị móc nối với số phản động lưu vong tán phát tài liệu, loan tin đồn nhảm, đưa lên mạng Internet những thông tin xấu chống phá Đảng, Nhà nước ta.

– Chúng phủ định đướng lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta và cho rằng, “kinh tế thị trường” sẽ từng bước làm thay đổi bản chất chế độ XHCN còn chờ thêm ít lâu nữa thì sẽ tới lúc chế độ cộng sản chỉ còn trên danh nghĩa”…

– Chúng dùng cả lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, đồng thời tập trung phát triển lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự ”tự diễn biến”, sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ nhân dân, làm cho nhân tố bên trong phát triển trở thành lực lượng chính trị đối lập.

– Các thế lực cực hữu ở Mỹ và các nước phương Tây, tăng sức ép với ta qua các thủ đoạn: dùng Quốc hội thông qua các nghị quyết báo cáo định kỳ, tạo dư luận chống Việt Nam… về các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc.

Chúng còn thông qua các quan hệ hợp tác về kinh tế, văn hoá, khoa học, giáo dục, đào tạo để tăng cường lôi kéo, mua chuộc cán bộ chủ chốt ; triển khai hoạt động hỗ trợ giáo dục đào tạo trên diện rộng thông qua 15 chương trình dự án lớn như: “Chương trình khách tham quan quốc tế” (IVP), ”Chương trình viết văn quốc tế” (IWP), “Chương trình Fulbnght Việt Nam”, “Quỹ Ford”, “Quỹ giáo dục Víệt Nam”…

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn kết hợp “DBHB” với bạo loạn lật đổ, chống phá ta như đã xảy ra ở Tây Nguyên tháng 2/2001 và 4/2004.

Những thủ đoạn “DBHB” mà các thế lực thù địch đã chống phá ta, đã có những tác động nhất định vào tư tưởng của nội bộ và quần chúng như:

– Có một số cán bộ, đảng viên giảm lòng tin đối với CNXH, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, hoang mang, dao động mất phương hướng hoặc muốn đi theo con đường phát triển TBCN; một bộ phận bị ảnh hưởng bởi trào lưu xã hội dân chủ, nguy hiểm hơn khi một số cán bộ, đảng viên tính chiến đấu bị tê liệt, còn tham gia vào việc truyền bá, tán phát tài liệu có quan điểm sai trái.

– Chúng xác định thanh niên, sinh viên là một trong những mũi nhọn để tấn công thưc hiện “DBHB”. Chúng còn tấn công vào các đối tượng trí thức, văn nghệ sĩ, lôi kéo, kích động họ đấu tranh đòi tự do tuyệt đối về tư tưởng trong sáng tác, tặng giải thưởng cho những người có tác phẩm chống cách mạng Việt Nam…

– Chúng sử dụng hình thức tuyên truyền mỵ dân, kích động gây chia rẽ giữa lớp người cộng sản tiền bối, với những người đang giữ vị trí lãnh đạo. Nghiêm trọng hơn, chúng đã lợi dụng được một số cán bộ nghỉ hưu, cựu chiến binh bất mãn thành lập nhóm hoạt động nhằm tạo dựng ngọn cờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, chúng cũng thực hiện ý đồ nham hiểm trong hoạt động tuyên truyền gây chia rẽ các dân tộc trong cộng đồng đân tộc Việt Nam “đòi ly khai, tự trị”.

Nhận thức rõ được những âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, Trung ương Đảng thường xuyên theo dõi chỉ đạo cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, cương lĩnh của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá.

Sau Đại hội Đảng IX, Trung ương đã ra Chỉ thị 05 ngày 4/1/2002 vế “tăng cường đấu tranh chống lại luận điệu sai trái và các hoạt động tán phát tài liệu chống Việt Nam”. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 5 khoá IX đã đề ra “nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng lý luận trong tình hình mới”. Gần đây, Trung ương đã đề ra thông báo kết luận 94 về “nhiệm vụ tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá” và Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về “chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

Thông qua việc tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhận thức của số đông cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu “DBHB” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng-văn hoá đã được nâng lên; trách nhiệm lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và chính quyền trên lĩnh vực bảo vệ an ninh tư tưởng đã chuyển biến tích cực. Các ngành chức năng có sự phối hợp theo dõi, nắm chắc hơn các hoạt động phá hoại của địch, bước đầu đạt được tiến bộ và hiệu quả cao hơn trong việc vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá ta về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc; phản bác các quan điểm sai trái, góp phần định hướng và thống nhất tư tưởng.

Chúng ta đã chủ động xử lý có hiệu quả hơn các hoạt động phạm pháp của bỏn cơ hội chính trị, bọn đội lốt tôn giáo vi phạm pháp luật. Tổ chức cho quần chúng ở cơ sở đấu tranh, cô lập và phân hoá kẻ xấu, góp phần ổn định tình hình chính trị. Đồng thời, tăng cường thông tin đối ngoại và tổ chức có hiệu quả hơn cuộc đấu tranh trên mặt trận đối ngoại, tạo dư luận ủng hộ Việt Nam, bước đầu làm thất bại âm mưu nói xấu, xuyên tạc, đưa nước ta vào danh sách các nước vi phạm nhân quyền.

Tuy vậy, công tác đấu tranh chống “DBHB” trên mặt trận tư tưởng văn hoá vẫn còn những yếu kém cần ra sức khắc phục: Việc triển khai tổ chức học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng còn biểu hiện làm lướt, mang tính hình thức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa nhận thức đầy đủ bản chất của các thế lực thù địch đánh ta bằng “DBHB”, nên có biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác.

Sự chỉ đạo và phối hợp tấn công chống “DBHB” của các cơ quan tuyên truyền còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Đấu tranh chống một số phần tử cơ hội chính trị, phản động đội lốt tôn giáo chưa kiên quyết, thống nhất, kịp thời.

Việc quản lý an ninh tư tưởng-văn hoá còn lỏng lẻo, như nhập các văn hoá phẩm nước ngoài (kể cả văn hoá đồi trụy phản động) có chiều hướng tăng. Cơ chế phối hợp giữa các ngành chức năng còn hạn chế. Công tác tuyên truyền giáo dục chưa đúng mức, tính chiến đấu chưa cao, chưa kịp thời. Công tác lý luận còn một số vấn đề bất cập, chưa giải đáp kịp thời những vấn đề nảy sinh. Công tác nắm, dự báo tình hình tư tưởng thiếu chủ động, chưa kịp thời. Chưa tập trung giải quyết một cách có hiệu quả trong việc ngăn chặn các khuynh hướng tiêu cực trong hoạt động văn hoá, văn nghệ, báo chí. Công tác chỉ đạo hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền miệng chưa sắc bén, chưa đều khắp ; chưa tham gia xử lý các điểm nóng có hiệu quả

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tăng cường quy mô thực hiện âm mưu “DBHB” càng ráo riết hơn. với những thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi hơn.

Cần tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng-văn hoá trên tinh thần đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tạo sự nhất trí cao trong Đảng và đồng thuận trong xã hội về mục tiêu, lý tưởng, kiên định những vấn đề quan điểm có tính nguyên tắc. Thực hiện có kết quả tích cực cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chặn đứng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; đẩy lùi 4 nguy cơ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tường-văn hoá; giữ vững ổn định chính trị, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Để thực hiện phương hường nêu trên cần tập trung một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao chất lượng việc tổ chức học tập quán triệt nghị quyết của Đảng trong tất cả hệ thống chính trị-kiểm tra việc tổ chức triển khai Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị khoá VIII về “chiến lược an ninh quốc gia”, Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về “chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, phổ biến sâu rộng thông báo kết luận 94-TB/TƯ của Ban Bí thư về “nhiệm vụ tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng-văn hoá gắn với việc xây dựng chương trình hành động. Qua học tập phải giúp cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nâng cao nhận thức, mài sắc tinh thần cảnh giác cách mạng chống “tự diễn biến”.

Thứ hai, từ tổng kết thực tiễn của quá trình đổi mới ,cần kịp thời giải đáp những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách. Không để sự chậm trễ về lý luận tạo khoảng trống trong nhận thức, để kẻ địch và bọn xấu khai thác gây mơ hồ, ngộ nhận dẫn đến những quan điểm lệch lạc, sai trái.

Thứ ba, tích cực chủ động thực hiện có kết quả cuộc vận động xây đựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao tính chiến đấu của từng đảng viên. Đồng thời thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về “xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đấu tranh chống văn hoá phản động, đồi trụy, lai căng, chống lối sống sa đoạ, buông thả nhất là lớp trẻ; tăng cường giáo dục đạo đừc trong Đảng và quần chúng, giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong sinh viên, học sinh, qua đó nâng cao lòng tự hào dân tộc, phấn đấu vươn lên rèn luyện, học tập thành người có ích cho đất nước.

Thứ tư tăng cường công tác quản lý các phương tiện thông tin: báo, đài, Internet, các diễn đàn, hội thảo khoa học, sách báo, văn hoá phẩm, phim ảnh…; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả những tưtưởng độc hại của kẻ thù xâm nhập.

Thứ năm, nắm bắt tình hình tư tưởng và tâm trạng các đối tượng xã hội trên từng địa bàn, phản ánh kịp thời những luận điệu tuyên truyền của địch nhằm đề xuất chủ trương, biện pháp giải quyết xây dựng lực lương nòng cốt trong hệ thống chính trị ở địa phương, cơ sở; tổ chức cho quần chúng tham gia đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá.

Thứ sáu, chủ động công tác định hướng tư tưởng, phát huy ờân chủ nội bộ, tăng cường thảo luận, đối thoại trong Đảng về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Bình tĩnh lắng nghe, kiên trì vận động thuyết phục, phải kiên quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh với những sai phạm trong số những ngưởi có quan điểm sai trái, vi phạm pháp luật.

Thứ bảy, xây dựng một cơ chế phối hợp có hiệu quả thiết thực trong các hoạt động tư tưởng, văn hoá, văn nghệ, giáo dục, khoa học, thông tin tuyên truyền. Tăng cường định hướng của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, hội thảo, quản lý sinh viên đi học nước ngoài. Chú ý tăng cường thông tin đối ngoại, làm cho thế giới hiểu đúng tình hình phát triển của đất nước ta, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế.

Việc nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn “DBHB” để có hành động đúng đắn, bình tĩnh, khôn khéo trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc chống lại các thế lực thù địch là đòi hỏi cao nhất của những người yêu nước, yêu CNXH.

Theo cpv.org.vn

Tài liệu: Âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ

On the net

1 – Diễn biến hòa bình:

“DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” là một chiến lược phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch. Nó được tiến hành theo kiểu thẩm thấu dần dần trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội… và khi cần thiết thì kết hợp với bạo loạn lật đổ làm tan rã các nước xã hội chủ nghĩa. Nó dùng mọi âm mưu thủ đoạn tinh vi, trắng trợn tạo nên những nhân tố tác động từ bên trong và bên ngoài nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội mà không cần chiến tranh.

Ngay sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, những kẻ hôm trước còn là đồng minh chống phát xít đã ngay lập tức quay lại hô hào “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”, “ngăn chặn hiểm họa đỏ”. Chúng thực hiện chiến lược ngăn chặn những ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa sang các nước phương Tây. Lúc đầu chỉ là một quan điểm chỉ đạo nằm trong chính sách đối ngoại, sau dần dần trở thành chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với các nước xã hội chủ nghĩa.

Năm 1947, chúng thành lập bộ phận nghiên cứu các biện pháp hòa bình chống chủ nghĩa xã hội, đưa ra chủ trương khuyến khích các lực lượng trỗi dậy lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng cho rằng cần khuyến khích và sử dụng chính những người dân ở các nước xã hội chủ nghĩa để lật đổ, thủ tiêu chế độ cộng sản, xóa bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Bằng các chính sách về kinh tế, chính trị và ngoại giao để biến đổi các nước xã hội chủ nghĩa thành các nước tư bản chủ nghĩa. Năm 1957, chúng đưa ra luận điểm: các nước phương Tây cần xây dựng quan hệ với phe xã hội chủ nghĩa một cách rộng khắp, tỉnh táo và hòa bình để truyền bá tư tưởng “tự do” và thông qua phim ảnh, băng ghi âm, truyền bá lối sống phương Tây, và phải đặc biệt chú ý thông qua cuộc “cách mạng văn hóa” để làm tan rã tư tưởng trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Những nhà chống cộng liên tiếp cho ra các cuốn sách xung quanh chiến lược “diễn biến hòa bình” như : “Cuộc chiến tranh chính nghĩa” (1980); “Các nhà lãnh đạo” (1982); “Hòa bình chân chính” (1984); “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh” (1988); “Chớp thời cơ – những thách thức đối Mỹ trong thế giới một siêu cường” (1991).

Tác giả của các cuốn sách đó tập trung vào những vấn đề tư tưởng chính / trong quá trình tác động diễn / trị biến hòa bình đối với các nước xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là sau sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, họ đã kêu gọi chớp lấy thời cơ, tăng cường thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, nhanh chóng xóa sổ chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1988, trước hạn chế và thất bại của “chiến lược ngăn chặn; các thế lực chống chủ nghĩa xã hội đã đưa ra “chiến lược vượt trên ngăn chặn” với nội dung chủ yếu là chuyển từ phòng thủ sang tích cực tấn công, xích lại gần các nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện “thẩm thấu hòa bình”, đi đến xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước này. Chúng chủ trương tiến hành “một cuộc chiến tranh thế giới mới không có đại bác” để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội, mở ra một thế giới mới định hướng theo nền văn minh phương Tây.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” có những đặc điểm sau :

– Đánh bại chủ nghĩa xã hội bằng phương pháp hòa bình, không cần chiến tranh. Nó là cuộc chiến tranh không có khói súng.

– Cuộc chiến này chủ yếu sử dụng lực lượng gián tiếp thông qua con người, lực lượng và phương tiện của chính đối phương, sử dụng các công cụ ngoại giao, kinh tế, văn hóa – tư tưởng để làm thay đổi chế độ chính trị, khi cần thiết mới dùng sức mạnh quân sự – phương tiện răn đe đối phương.

– Nó mang tính toàn cầu, được triển khai trên qui mô lớn và rộng khắp, tiến hành “gặm nhắm”, không vội vã, có trọng tâm trọng điểm.

– Nó tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng ngay trong lòng nước xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt chú ý mua chuộc, lôi kéo những người có chức vụ cao trong Đảng và Nhà nước, những văn nghệ sĩ, trí thức có uy tín, những người có tư tưởng dao động, nhận thức lệch lạc hoặc bất mãn với chế độ.

2- Bạo loạn lật đổ:

“BẠO LOẠN LẬT ĐỔ” là hành động bạo lực của những lực lượng phản động nhằm lật đổ chính quyền, không kể ở cơ sở hay ở trung ương.

Mục đích của kẻ gây bạo loạn là nhằm thay thế chế độ hiện hành bằng một chế độ khác. Đó là hành động có tính toán kỹ càng, có mục tiêu kế hoạch và các bước cụ thể. Khi tiến hành bạo loạn lật đổ, có thể có những người bị kích động, lôi kéo một cách vô thức, song kẻ cầm đầu bạo loạn bao giờ cũng có chủ đích lật đổ chính quyền.

Các thế lực thù địch trong khi sử dụng các phương thức chống phá, không bao giờ từ bỏ phương thức bạo loạn lật đổ khi cần thiết. Những yếu tố bạo loạn lật đổ thường bao gồm:

– Bọn cầm đầu bạo loạn lật đổ liên kết với các thế lực phản động bên ngoài. Kẻ cầm đầu không nhất thiết phải có mặt trong các cuộc nổi dậy, song nó nắm rất chắc và chỉ huy chặt chẽ mọi hoạt động bạo loạn.

– Tổ chức tập hợp lực lượng nòng cốt đóng vai trò hạt nhân kích động, như một thứ kim hỏa chọc vào ngòi nổ làm cho thuốc đạn bùng cháy, gây thành hành động rộng rãi của số đông những người tham gia. Lực lượng bị kích động được chuẩn bị trước, thường là số người bất mãn, nhẹ dạ.

– Đã là bạo loạn, nhất thiết phải có sức mạnh vũ lực, có vũ khí hoặc hung khí, có lực lượng sử dụng nó. Sử dụng ở đâu, quy mô như thế nào, là tùy thuộc vào diễn biến và cách đối phó của đối phương. Ngoài mục tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ hành động đã vạch trước, bọn bạo loạn lật đổ bao giờ cũng có các phương án xử trí các tình huống khác nhau nảy sinh.

Trong tình hình hiện nay, những đối tượng có thể gây bạo loạn lật đổ thường là những người có thâm thù với cách mạng, với nhân dân, trước sau không chấp nhận chế độ mới; những kẻ có tay sai cho các thế lực thù địch; những kẻ thoái hóa biến chất đã bị cách mạng loại bỏ…

Tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, tệ tham nhũng, buôn lậu và các hiện tượng tiêu cực khác kéo dài và nghiêm trọng, trật tự trị an không đảm bảo, xã hội không ổn định, đời sống nhân dân khó khăn … là những cơ hội tốt để các thế lực thù địch lợi dụng gây bạo loạn lật đổ.

Vì vậy, việc ổn định và củng cố bên trong, làm yên lòng dân, ngăn chặn sự thâm nhập và tiến công từ bên ngoài, là yếu tố cơ bản nhất để diệt trừ bạo loạn lật đổ.

Sưu tầm net

Chính luận: Dương Văn Lượng – Thủ đoạn diễn biến “hòa bình” và “không hòa bình”

On the net

Thủ đoạn diễn biến “hòa bình” và “không hòa bình”

Mưu đồ chống phá toàn diện

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã sử dụng các hình thức, biện pháp phi vũ trang để chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Đây là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, nhằm làm suy yếu nền kinh tế, rối loạn về xã hội, làm chệch hướng đường lối chính trị, làm mất sức chiến đấu của các LLVT, cô lập và hạ thấp vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ đó chuyển hóa chế độ XHCN theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Dạng thức này được chủ nghĩa đế quốc thực hiện chống Việt Nam từ mấy chục năm qua, nhưng tập trung nhất, quyết liệt nhất là sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Nội dung của dạng thức này bao gồm chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho việc thực hiện chủ trương, đường lối không thành công trên thực tế; chống phá các cơ quan, tập thể và cá nhân lãnh đạo Đảng và Nhà nước; chống phá hệ tư tưởng giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng; chống phá sự nghiệp đổi mới đất nước, âm mưu làm chệch hướng công cuộc đổi mới; ngăn trở, kìm hãm làm chệch hướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; chống phá sự nghiệp quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân; âm mưu xóa bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, công an, “vô hiệu hóa” LLVT…

Để thực hiện dạng thức trên, chủ nghĩa đế quốc sử dụng nhiều phương tiện, nhiều lực lượng, con đường và biện pháp phi vũ trang rất xảo quyệt, tinh vi, trong đó chú trọng sử dụng hệ thống thông tin-truyền thông toàn cầu (các đài phát thanh, truyền hình, sách, báo, tạp chí…) để tuyên truyền chống phá về chính trị, tư tưởng, tuyên truyền chống Đảng, chống chế độ, kích động, gây hoang mang trong nhân dân, gây rối loạn xã hội.

Can thiệp, gây sức ép, làm chuyển hóa chế độ là dạng thức “diễn biến hòa bình” mà chủ nghĩa đế quốc đã áp dụng đối với nhiều nước và có những kết quả nhất định. Đối với Việt Nam, dạng thức này được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch áp dụng từ khi Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện, mở rộng quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế thế giới, nhằm can dự và can thiệp sâu hơn, nhiều hơn vào công việc nội bộ của Việt Nam, âm mưu từng bước chuyển hóa “êm thấm” Việt Nam. Nhiều chuyên gia “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc cho rằng, đối với các nước cộng sản, hình thức chống phá “giấu mặt” bằng can dự, can thiệp, gây sức ép, chuyển hóa thường có kết quả hơn hình thức đối đầu trực tiếp. Nó làm cho đối phương dễ mất cảnh giác, chủ quan, không có sự đề phòng cao. Khi việc can thiệp và chuyển hóa đến một mức độ nhất định, thì nếu có nhận ra cũng đã muộn và hậu quả sẽ khó lường.

Phạm vi can dự, can thiệp và chuyển hóa của chủ nghĩa đế quốc trên tất cả các lĩnh vực; thực hiện thông qua hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đầu tư, viện trợ, chuyển giao công nghệ; các hoạt động du lịch; thông qua các tổ chức phi chính phủ, các đoàn ngoại giao, các diễn đàn quốc tế và khu vực, thông qua đối ngoại cấp cao; thông qua người Việt Nam định cư ở nước ngoài… Dạng thức chống phá này rất nguy hiểm, khó nhận diện và hậu quả rất nghiêm trọng.

Không dừng ở phương thức “hòa bình”

Kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ là một dạng thức mới được chủ nghĩa đế quốc áp dụng chống phá cách mạng Việt Nam trong nhiều năm qua; rất nguy hiểm, tác động trực tiếp đến an ninh chính trị của quốc gia.

Bạo loạn lật đổ là một phương thức chống phá cách mạng nhằm mục tiêu lật đổ chế độ, giành chính quyền trung ương và địa phương bằng các hoạt động có tổ chức (bao gồm hoạt động chính trị và hoạt động quân sự) của bọn phản động trong nước khi đã lôi kéo, tập hợp được số đông quần chúng, được đế quốc và các thế lực phản động quốc tế chỉ đạo, giúp đỡ, thậm chí có thể sử dụng một bộ phận lực lượng trực tiếp tham gia chi viện. Bạo loạn lật đổ gồm bạo loạn chính trị và bạo loạn quân sự. “Diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ tuy khác nhau về phương thức, thủ đoạn, nhưng đều thống nhất về mục tiêu là lật đổ chế độ, giành chính quyền. Trong quá trình tiến hành “diễn biến hòa bình” chống cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ, trong đó “diễn biến hòa bình” giữ vai trò xung kích, đi trước, chuẩn bị lực lượng, điều kiện (chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, lực lượng, quần chúng, địa bàn, thời cơ…) để tiến hành bạo loạn lật đổ khi có thời cơ. Bạo loạn lật đổ là hệ quả tất yếu của các hoạt động “diễn biến hòa bình” trước đó.

Kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ là sự kết hợp hai phương thức “hòa bình” và “không hòa bình” trong một chiến lược chống phá cách mạng Việt Nam; có thể diễn ra đồng thời, đan xen trên một hay nhiều khu vực. Bạo loạn chính trị thường là đòn tiến công ban đầu đối với chính phủ, “châm ngòi” cho toàn bộ cuộc bạo loạn và áp lực toàn diện đối với chính phủ trong suốt quá trình diễn ra bạo loạn.

Quy mô bạo loạn tùy thuộc vào tương quan lực lượng, vào điều kiện và thời cơ, mục đích thực sự của bạo loạn. Có loại “bạo loạn lật đổ” chỉ mang tính cục bộ, quy mô nhỏ, trên địa bàn hẹp và cũng chỉ nhằm mục đích tập dượt, chuẩn bị, gây thanh thế cho các cuộc bạo loạn quy mô lớn hơn, có mục đích cao hơn. Có loại bạo loạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động “diễn biến hòa bình”, như gây rối loạn chính trị-xã hội để tăng sức ép đối với chính phủ, buộc chính phủ thay đổi đường lối, chính sách theo hướng có lợi cho “diễn biến hòa bình” và tạo điều kiện cho các hoạt động “diễn biến hòa bình” tiếp theo. Ở nước ta, hai cuộc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên trong những năm 2001 và 2004 rất nguy hiểm, gây hậu quả trực tiếp, tiêu cực đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong quá trình chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch không đơn thuần thực hiện một dạng thức mà thường sử dụng nhiều dạng thức; không chỉ tiến hành các hoạt động “diễn biến hòa bình” mà còn kết hợp với bạo loạn lật đổ để tăng thêm hiệu quả chống phá. Do vậy, trong đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, ngăn chặn sớm, đập tan các âm mưu, mầm mống gây bạo loạn của các thế lực thù địch phản động, không để xảy ra “điểm nóng”, tụ tập biểu tình, khiếu kiện đông người, diễn biến phức tạp trên diện rộng.

Đại tá, Tiến sĩ  DƯƠNG VĂN LƯỢNG

Theo QĐND online

http://www.tuyengiao.vn/Home/tutuong/lyluanthuctientutuong/2009/11/14360.aspx

Tin nóng: Danh sách chi tiết 200 ủy viên trong Ban chấp hành TW Đảng khóa XI

On the net

Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng bỏ phiếu

Danh sách chi tiết 200 ủy viên trong Ban chấp hành TW Đảng khóa XI

Các Ủy viên Bộ Chính trị khóa X tái cử (xếp theo thứ tự A, B, C) gồm:

Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh,

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,

Bí thư Thành ủy TP HCM Lê Thanh Hải,

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng,

Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị,

Trưởng ban Tuyên giáo trung ương Tô Huy Rứa;

Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang,

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh,

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng.

Xem danh sách 175 Ủy viên chính thức BCH Trung ương khoá XI tại đây: 175_UV_BCH_chinh_thuc.doc .

Xem danh sách 25 Ủy viên dự khuyết tại đây:  Danh_sach_Dukhuyet_khoa_XI.doc.

Danh sách

UỶ VIÊN CHÍNH THỨC BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XI
(Danh sách theo A,B,C; Những chức vụ về Đảng căn cứ theo khóa X)
1. Hoàng Tuấn Anh UVTWĐ, Bộ tr­ưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
2. Lê Hồng Anh UVBCT, Đại tướng, Bộ tr­ưởng Bộ Công an
3. Lê Thị Thu Ba UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban T­ư pháp của Quốc hội
4. Hà Ban Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum
5. Bùi Quang Bền Bí thư Tỉnh uỷ Kiên Giang
6. Dương Thanh Bình Bí thư Tỉnh uỷ Cà Mau
7. Nguyễn Hoà Bình Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi
8. Nguyễn Thái Bình UVTWĐ, Thứ tr­ưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ
9. Nguyễn Thanh Bình Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh
10. Nguyễn Văn Bình Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
11. Phan Thanh Bình UVTWDK, Thành uỷ viên, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
12. Tr­ương Hoà Bình UVTWĐ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao
13. Lương Ngọc Bính Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Bình
14. Huỳnh Minh Chắc Bí thư Tỉnh uỷ Hậu Giang
15. Lê Chiêm Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 5 – Bộ Quốc phòng
16. Đỗ Văn Chiến UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang
17. Hà Ngọc Chiến Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Cao Bằng
18. Võ Minh Chiến UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Sóc Trăng
19. Mai Văn Chính UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Long An
20. Phạm Minh Chính Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
21. Phạm Thị Hải Chuyền UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Thường  trực Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
22. Nguyễn Thành Cung UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
23. Đinh Văn C­ương UVTWĐ, Phó Trưởng ban Thường trực  Ban Chỉ đạo Tây Bắc
24. Hà Hùng C­ường UVTWĐ, Bộ tr­ưởng Bộ T­ư pháp
25. Lương Cường Trung tướng, Chính uỷ Quân khu 3 – Bộ Quốc phòng
26. Nguyễn Quốc Cường UVTWĐ, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam
27. Nguyễn Xuân Cường Bí thư Tỉnh uỷ Bắc Kạn
28. Nguyễn Thị Doan UVTWĐ, Phó Chủ tịch n­ước
29. Ngô Văn Dụ BTTWĐ, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng
30. Đào Ngọc Dung UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Yên Bái
31. Đinh Tiến Dũng Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình
32. Mai Tiến Dũng Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam
33. Nguyễn Chí Dũng Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận
34. Nguyễn Tấn Dũng UVBCT, Thủ t­ướng Chính phủ
35. Phan Xuân Dũng UVTWDK, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học – Công nghệ và Môi tr­ường của Quốc hội
36. Trần Trí Dũng Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh
37. Trịnh Đình Dũng UVTWĐ, Thứ tr­ưởng Bộ Xây dựng
38. Võ Văn Dũng UVTWDK, Bí thư Tỉnh uỷ  Bạc Liêu
39. Mai Thế D­ương UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
40. Vũ Đức Đam UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Quảng Ninh
41. Trần Đơn Thiếu tướng, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 7 – Bộ Quốc phòng
42. Lê Hữu Đức Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
43. Phạm Xuân Đương Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên
44. Lò Văn Giàng Bí thư Tỉnh uỷ Lai Châu
45. Nguyễn Văn Giàu UVTWĐ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
46. Nguyễn Thị Thu Hà Phó Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh
47. Phạm Hồng Hà Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Nam Định
48. Hoàng Trung Hải UVTWĐ, Phó Thủ t­ướng Chính phủ
49. Lê Thanh Hải UVBCT, Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh
50. Nguyễn Đức Hải Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam
51. Trần L­ưu Hải UVTWĐ, Phó tr­ưởng Ban Tổ chức Trung ương
52. Trần Văn Hằng UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
53. Phùng Quốc Hiển UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của  Quốc hội
54. Nguyễn Văn Hiến UVTWĐ, Phó Đô đốc Hải quân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư­ lệnh Quân chủng Hải quân
55. Đặng Văn Hiếu UVTWĐ, Trung tướng, Thứ tr­ưởng Bộ Công an
56. Dương Đức Hoà Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 2 – Bộ Quốc phòng
57. Nguyễn Thị Thanh Hoà UVTWĐ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
58. Ph­ương Minh Hoà UVTWĐ, Trung tướng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, Bộ Quốc phòng
59. Bùi Thị Minh Hoài UVTWDK, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân Việt Nam
60. Vũ Huy Hoàng UVTWĐ, Bộ tr­ưởng Bộ Công thương
61. Vũ Ngọc Hoàng UVTWĐ, Phó Tr­ưởng ban Tuyên giáo Trung ương
62. V­ương Đình Huệ UVTWĐ, Tổng Kiểm toán Nhà n­ước
63. Nguyễn Sinh Hùng UVBCT, Phó Thủ t­ướng Thường trực Chính phủ
64. Phạm Xuân Hùng UVTWĐ, Trung tướng, Phó Tổng Tham m­ưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam
65. Trần Quốc Huy Bí thư Tỉnh uỷ Đắc Nông
66. Đinh Thế Huynh UVTWĐ, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân
67. Nguyễn Tấn H­ưng UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Phước
68. Thuận Hữu PhóTổng Biên tập Báo Nhân Dân
69. Nguyễn Tuấn Khanh UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương
70. Nguyễn Doãn Khánh Bí thư Tỉnh uỷ Phú Thọ
71. Tr­ương Quang Khánh UVTWĐ, Trung tướng, Thứ tr­ưởng Bộ Quốc phòng
72. Hà Thị Khiết BTTWĐ, Tr­ưởng Ban Dân vận Trung ương
73. Phùng Thanh Kiểm Bí thư Tỉnh uỷ Lạng Sơn
74. Vũ Trọng Kim UVTWĐ, Phó Chủ tịch – Tổng Th­ư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
75. Tô Lâm Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
76. Ngô Xuân Lịch UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
77. Đào Tấn Lộc UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên
78. Phạm Vũ Luận Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
79. Uông Chu L­ưu UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội
80. Tr­ương Thị Mai UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội
81. Trần Thanh Mẫn UVTWDK, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Cần Thơ
82. Châu Văn Minh Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
83. Nguyễn Tuấn Minh UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
84. Phạm Bình Minh UVTWĐ, Thứ tr­ưởng Thường trực Bộ Ngoại giao
85. Trần Bình Minh Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam
86. Trần Văn Minh Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẵng
87. Bùi Văn Nam Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
88. Nguyễn Phương Nam Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng QK9 – Bộ Quốc phòng
89. Nguyễn Văn Nên Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh
90. Nguyễn Thị Kim Ngân UVTWĐ, Bộ tr­ưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
91. Phạm Quang Nghị UVBCT, Bí thư­ Thành uỷ Hà Nội
92. Trương Quang Nghĩa Bí thư Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương
93. Phạm Quý Ngọ Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an
94. Hồ Mẫu Ngoạt Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng
95. Trần Thế Ngọc Bí thư Tỉnh uỷ Tiền Giang
96. Nguyễn Thiện Nhân UVTWĐ, Phó Thủ t­ướng Chính phủ
97. Hà Sơn Nhin UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Gia Lai
98. Mai Văn Ninh Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thanh Hoá
99. Vũ Văn Ninh UVTWĐ, Bộ tr­ưởng Bộ Tài chính
100. Nguyễn Thị N­ương UVTWĐ, Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương
101. Nguyễn Đình Phách UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
102. Cao Đức Phát UVTWĐ, Bộ tr­ưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
103. Mai Quang Phấn UVTWĐ, Trung tướng, Chính uỷ Quân khu 4 – Bộ Quốc phòng
104. Nguyễn Thành Phong Bí thư Tỉnh uỷ Bến Tre
105. Tòng Thị Phóng BTTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội
106. Lê Hữu Phúc UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị
107. Nguyễn Hạnh Phúc Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình
108. Nguyễn Xuân Phúc UVTWĐ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
109. Võ Văn Phuông UVTWDK, Phó Bí thư­ Tỉnh uỷ Tây Ninh
110. Giàng Seo Phử UVTWĐ, Bộ tr­ưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc
111. Ksor Ph­ước UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội
112. Lê Thanh Quang Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Khánh Hoà
113. Nguyễn Minh Quang UVTWĐ, Bí thư Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương
114. Trần Đại Quang UVTWĐ, Trung tướng, Thứ tr­ưởng Bộ Công an
115. Hoàng Bình Quân UVTWĐ, Tr­ưởng Ban Đối ngoại Trung ương
116. Lê Hoàng Quân UVTWĐ, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh
117. Nguyễn Quân Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ
118. Nguyễn Tấn Quyên UVTWĐ, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND thành phố Cần Thơ
119. Bùi Thanh Quyến UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Hải D­ương
120. Nguyễn Văn Quynh UVTWĐ, Phó tr­ưởng Ban Tổ chức Trung ương
121. Tô Huy Rứa UVBCT, BTTWĐ, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
122. Trương Tấn Sang Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư
123. Phan Văn Sáu Bí thư Tỉnh uỷ An Giang
124. Nguyễn Bắc Son UVTWĐ, Phó tr­ưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
125. Hồ Xuân Sơn Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
126. Huỳnh Ngọc Sơn UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội
127. Nguyễn Thanh Sơn UVTWDK, Phó Bí thư­ Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang
128. Thào Xuân Sùng UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh  Sơn La
129. Lê Vĩnh Tân Bí thư Tỉnh uỷ Đồng Tháp
130. Tạ Ngọc Tấn UVTWĐ, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
131. Ngô Thị Doãn Thanh Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội
132. Nguyễn Bá Thanh UVTWĐ, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND thành phố Đà Nẵng
133. Phùng Quang Thanh UVBCT, Đại tướng, Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng
134. Nguyễn Văn Thành Bí thư Thành uỷ Hải Phòng
135. Trần Đình Thành UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai
136. Nguyễn Thế Thảo UVTWĐ, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội
137. Đinh La Thăng UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
138. Nguyễn Xuân Thắng Phó Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
139. Sơn Minh Thắng Tỉnh uỷ viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trà Vinh
140. Đào Trọng Thi UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá Giáo dục – Thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội
141. Nguyễn Ngọc Thiện Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế
142. Nguyễn Văn Thiện Bí thư Tỉnh uỷ Bình Định
143. Đặng Thị Ngọc Thịnh UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Vĩnh Long
144. Nguyễn Văn Thông Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên
145. Niê Thuật UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk
146. Võ Văn Th­ưởng UVTWDK, Bí thư­ thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
147. Huỳnh Văn Tí UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Thuận
148. Nguyễn Thị Kim Tiến UVTWDK, Thứ tr­ưởng Bộ Y tế
149. Nguyễn Xuân Tiến Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Lâm Đồng
150. Bùi Văn Tỉnh Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hoà Bình
151. Phan Đình Trạc Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An
152. Huỳnh Phong Tranh UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Lâm Đồng
153. Lò Mai Trinh Bí thư Tỉnh uỷ Điện Biên
154. Nguyễn Phú Trọng UVBCT, Chủ tịch Quốc hội
155. Đào Việt Trung Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
156. Mai Thế Trung UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Bình D­ương
157. Nguyễn Thế Trung UVTWĐ,  Phó trưởng Ban Th­ường trực Ban Dân vận Trung ương
158. Võ Tiến Trung Trung tướng, Giám đốc Học viện Quốc phòng – Bộ Quốc phòng
159. Mai Trực Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
160. Bế Xuân Trường Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 1 – Bộ Quốc phòng
161. Trần Cẩm Tú UVTWDK, Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
162. Nông Quốc Tuấn Bí thư Tỉnh uỷ Bắc Giang
163. Đặng Ngọc Tùng UVTWĐ, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
164. Trần Văn Tuý Phó Bí thư Tỉnh uỷ,  Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh
165. Đỗ Bá Tỵ UVTWĐ, Trung tướng, Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
166. Nguyễn Hữu Vạn Bí thư Tỉnh uỷ Lào Cai
167. Nguyễn Sáng Vang Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang
168. Nguyễn Hoàng Việt UVTWĐ, Phó tr­ưởng Ban Tổ chức Trung ương
169. Võ Trọng Việt Trung tướng, Chính uỷ Bộ đội Biên phòng – Bộ Quốc phòng
170. Bùi Quang Vinh UVTWĐ, Thứ tr­ưởng Bộ Kế hoạch và Đầu t­ư
171. Triệu Tài Vinh UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Hà Giang
172. Nguyễn Chí Vịnh Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
173. Phạm Văn Vọng Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc
174. Lê Quý Vương Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
175. Trần Quốc Vượng UVTWĐ, Viện tr­ưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Danh sách

UỶ VIÊN DỰ KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XI

STT Họ và tên Chức vụ, đơn vị công tác hiện nay
1. Chu Ngọc Anh Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
2. Nguyễn Xuân Anh Ủy viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Bí thư Quận uỷ Liên Chiểu, Đà Nẵng
3. Tất Thành Cang Thành uỷ viên, Bí thư Quận uỷ, Chủ tịch UBND quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh
4. Nguyễn Tân Cương Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1, Bộ Quốc phòng
5. Bùi Văn Cường Phó Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai
6. Nguyễn Phú Cường Tỉnh uỷ viên, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
7. Nguyễn Công Định Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch HĐND huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre
8. Trần Hồng Hà Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
9. Ngô Đông Hải Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Hoài Ân, Bình Định
10. Điểu Kré UVTWDK, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
11. Hầu A Lềnh UVTWDK, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Huyện uỷ Sa Pa, Lào Cai
12. Bh’Riu Liếc Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
13. Nguyễn Hồng Lĩnh UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Bà Rịa – Vũng Tàu
14. Lâm Văn Mẫn Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
15. Phạm Hoài Nam Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng vùng 4, Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng
16. Nguyễn Thanh Nghị Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh
17. Phùng Xuân Nhạ Thành uỷ viên, Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội
18. Trần Lưu Quang Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
19. Nguyễn Thị Thanh Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ Ninh Bình
20. Trần Sỹ Thanh Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk
21. Nguyễn Văn Thể Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Huyện uỷ Tân Hồng, Đồng Tháp
22. Nguyễn Khắc Toàn Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thành uỷ Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà
23. Nguyễn Thị Tuyến Thành uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; Đại biểu QH khoá XII
24. Nguyễn Đắc Vinh Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
25. Võ Thị Ánh Xuân Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ Tân Châu, tỉnh An Giang

Tiếp tục cập nhật…