Chính luận: Chống diễn biến hòa bình trong tình hình mới

On the net

Chống “Diễn biến hòa bình” – Nhiệm vụ quan trọng

Đối với Việt Nam, chiến lược DBHB đã có những thay đổi quan trọng, nó không còn theo nguyên nghĩa – chỉ là những tác động về tư tưởng, lý luận như phê phán mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin… (thời kỳ từ giữa những năm 80 đến đầu những năm 90 thế kỷ XX). Cho đến nay, chiến lược đó đã chuyển sang kết hợp DBHB về tác động về tư tưởng, lý luận với tiến công về chính trị – công kích trực tiếp vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chế độ XHCN, thể chế quốc gia – trong đó có Điều 4 Hiến pháp 1992  về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống pháp luật Quốc gia;  xuyên tạc, lên án  sự nghiệp cách mạng  của dân tộc trên một nửa thế kỷ qua, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy hy sinh gian khổ của cả dân tộc. Không dừng lại ở các hoạt động tư tưởng, chính trị, “bất bạo động”, các phần tử thù địch người Việt được sự trợ giúp  của phương Tây còn đẩy tới hoạt động kích động  tâm lý dân tộc hẹp hòi, tư tưởng cực đoan trong tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và tập hợp lực lượng chống đối, gây bạo loạn cục bộ, đồng thời chuẩn bị cho các hoạt động rộng lớn hơn nhằm lật đổ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Tính phức tạp cuộc đấu tranh chống DBHB là ở chỗ, trong khi phải đương đầu với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thì đồng thời chúng ta cũng đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trên lĩnh vực chính trị đó là việc “bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện”; là “đẩy mạnh cải cách lập pháp, tư pháp… tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN”; là kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, “hoàn thiện thể chế, luật pháp; thực hiện dân chủ công khai, minh bạch”. Trên lĩnh vực quốc tế đó là “tăng cường hợp tác quốc tế, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế… thực hiện có trách nhiệm các cam kết quốc tế”. Trên lĩnh vực kinh tế xã hội, đó là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển hài hòa giữa các vùng miền, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển…

Thắng lợi của công cuộc đổi mới phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triển của lĩnh vực khoa học (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nhân văn) và công nghệ. Muốn vậy không thể không xây dựng và thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài; thực hiện dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức…

Những vụ việc vi phạm pháp luật được đưa ra xét xử tại tòa án trên lĩnh vực an ninh quốc gia trong thời gian qua cho thấy có nhiều vụ vi phạm  một số điều tại Bộ luật Hình sự 1999, trong đó có các tội lợi dụng dân chủ nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79); tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam (Điều 88, Bộ luật Hình sự). Có thể nói âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch trong chiến lược DBHB hiện nay chính là lợi dụng ngay các chủ trương, chính sách đổi mới để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Một số kẻ lợi dụng chủ trương mở rộng dân chủ, cải cách hành chính, tự do tư tưởng, tự do báo chí, ngang nhiên đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp, 1992, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thực  hiện “ngay” nguyên tắc tam quyền phân lập; có kẻ viết bài tung lên mạng, hoặc tiếp cận các đài báo phương Tây, trả lời phỏng vấn, phát tán quan điểm cá nhân thông qua Internet xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí còn trắng trợn vu cáo Chính phủ Việt Nam bán nước cho ngoại bang; có kẻ kết nối các phần tử chống đối mưu toan thành lập các tổ chức đảng chính trị phản động…

Tính chất nguy hại của chiến lược DBHB hiện nay là ở chỗ, một khi những quan điểm cực đoan của phương Tây về đa nguyên chính trị, dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền của các dân tộc thiểu số được kích động sẽ chuyển thành những hành động chính trị phá hoại  khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phá hoại sự ổn định xã hội, thậm chí có thể hủy hoại thành quả cách mạng trên một nửa thế kỷ qua của nhân dân ta, đưa nước ta sang con đường tư bản chủ nghĩa.

Đấu tranh chống DBHB ngày nay cần nắm vững những nhận thức  mới của Đảng ta về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xã hội XHCN, nhất là các nguyên tắc về dân chủ XHCN, trong đó có vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên tắc pháp quyền XHCN, trong đó Hiến pháp, pháp luật quốc gia phải được tôn trọng; quyền, lợi ích của cá nhân phải đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm. Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống DBHB còn cần phải dựa trên nhận thức, hành động và tình cảm cách mạng trong sáng, kiên quyết khắc phục những khiếm khuyết của xã hội, vì những giá trị cao cả của dân tộc được hình thành trong lịch sử cũng như những giá trị chân chính  của mỗi người.

Bắc Hà

Theo QĐND

Nhận định: Lãng – Viễn kiến nào cho Biển Đông?

On the net

Lãng – Viễn kiến nào cho Biển Đông?

Những ngày gần đây, Biển Đông trở thành trung tâm chú ý của dư luận thế giới. Hầu hết các hãng thông tấn toàn cầu đều loan báo với cùng một giọng điệu chung: “Mỹ đã quay lại khu vực Đông Nam Á”. Cùng với đó là sự bận rộn của các trung tâm phân tích chiến lược trên thế giới, và trên hết, là phản ứng cấp thời của các nước có liên quan trong khu vực. Trung Quốc, nước đóng một vai trò rất lớn trong việc gây ra các xáo trộn về quyền lực toàn cầu, tất nhiên, gây chú ý nhiều hơn cả bởi các phát ngôn và hành động đao to búa lớn của mình.

Hạm tàu sân bay Geoge Wasington đang neo đậu ngoài khơi Đà Nẵng, cách bờ biển Việt Nam 200 hải lý, trong lúc các khu trục hạm mang tên lửa tấn công phối thuộc thì đang bận rộn với các hoạt động viếng thăm quân cảng của Việt Nam. Diễn biến này đáp ứng đòi hỏi của Việt Nam cũng như Hoa Kỳ, đồng thời cũng là điều Trung Quốc không muốn thấy.

Sự quay lại của Mỹ đã gây ra những phản ứng tích cực từ hầu hết các nước trong khu vực. Indonexia, trong một động thái chưa từng có, công khai phản bác yêu sách chủ quyền về vùng biển Trung Quốc đơn phương vạch ra ở Biển Đông. Việt Nam , nước có quyền lợi trực tiếp nhất đối với biển Đông thì hào hứng và bận rộn trong các hoạt động ngoại giao, quân sự con thoi với đối tác mới. Phillipin cũng tranh thủ cơ hội đóng vai trò của một người hòa giải, khi cao giọng tuyên bố tranh chấp ở Biển Đông chỉ cần đàm phán song phương giữa khối Asean với Trung Quốc, mà không cần có sự tham gia của bên thứ ba (ở đây là Mỹ). Nhìn một cách tổng thể, có vẻ các nước trong khu vực Đông Nam Á đang hành động có phần trái chiều, nhưng tinh tế hơn, sẽ thấy các nước đều đang chơi con bài riêng của mình, nhằm tối đa hóa lợi ích với yếu tố mới phát sinh do sự hiện diện trở lại của Mỹ trong khu vực. Người ta nhìn nhận việc Phillipin rất tế nhị đưa ra lời nhận xét muốn đàm phán song phương giữa khối Asean với Trung Quốc (Điều Trung Quốc mong muốn), song song với việc kêu gọi các nước nhanh chóng hoàn thiện và ký kết bộ quy tắc ứng xử chung trên Biển Đông (Điều Trung Quốc không hề muốn). Đây là một cửa lùi khôn khéo Phillipin mở ra cho khối Asean với người Tàu, có toan tính đến vai trò mà Mỹ đang hiện diện. Phản ứng các nước có thể khác nhau về biểu hiện bề ngoài, nhưng có vẻ các nước Asean đang cùng chơi chung một chiến lược, có đấm có xoa với dã tâm thôn tính Biển Đông của người Trung Quốc.

Căng thẳng Mỹ – Trung bắt nguồn từ một loạt vấn đề. Nghiêm trọng nhất là xung đột hai nước về kinh tế, thương mại và tài chính. Mỹ hiện nay chịu thâm hụt nặng trong kim ngạch buôn bán song phương với Trung Quốc, nhiều công ty Mỹ gặp khó khăn với môi trường kinh doanh và các rào cản kỹ thuật Trung Quốc dựng lên ở nội địa, và quan trọng hơn cả, do có thặng dư thương mại khổng lồ, dư dả về ngoại tệ, Trung Quốc đang là chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ. Đây là điểm yếu mà Mỹ đang tìm mọi cách để khắc phục. Bên cạnh đó, các chiến lược về chính trị, kinh tế của Trung Quốc đang phá hoại các toan tính trên bình diện an ninh toàn cầu của Mỹ và Đồng Minh. Ván bài Trung Quốc chơi tại Triều Tiên, khiến Mỹ rơi vào tình thế bế tắc và hầu như không thể giải quyết tình hình trên bán đảo này trong 3 – 5 năm tới. Câu chuyện tại Iran nặng nề hơn nhiều. Trong lúc Mỹ cố gắng áp dụng các lệnh cấm vận trừng phạt nhằm làm nản lòng của Iran trong tham vọng phát triển hạt nhân, thì Trung Quốc đang đào hố dưới chân Mỹ. Các công ty Trung Quốc đang vớ bẫm từ những hợp đồng béo bở ký với Iran trên một loạt lĩnh vực từ sản xuất, thương mại, và đặc biệt hơn cả là các hợp đồng khoan hút dầu và khí đốt. Cách chơi không mấy mã thượng của Trung Quốc khiến Mỹ thiệt thòi cả về kinh tế cũng như chính trị. Nước Mỹ đã có quá đủ, đã đến lúc nó thấy cần phải hành động.

Một loạt các diễn biến kéo dài suốt từ tháng 3/2010 trở lại đây cho thấy Mỹ đang có sự điều chỉnh về chiến lược. Mỹ và đồng minh đang tìm mọi cách gây sức ép với Trung Quốc, để bắt các quốc gia hãnh tiến ấy phải chấp nhận một luật chơi chung. Nước Mỹ cần đến những người bạn mới bên cạnh những người bạn cũ. Nhìn xa hơn qua đại dương, đích nhắm của họ hiện tại chính là Việt Nam. Quốc gia duy nhất, cũng là dân tộc duy nhất trong khu vực, có đủ tiềm chất để cứng chọi cứng với Trung Hoa. Sự cứng cổ của người Việt Nam, nước Mỹ đã từng nếm trải và thấm thía. Quá khứ tuy đau đớn, nhưng giờ người Mỹ nhận ra rằng sự cứng cổ ấy là thứ nước Mỹ cần trong ván bài chiến lược toàn cầu gây sức ép với Trung Hoa.

Cũng chính ở thời điểm này, quyền lợi quốc gia khiến Việt Nam mong muốn xích lại gần Mỹ một cách tự nhiên. Đã nhiều tháng nay, Việt Nam chật vật khốn khó với các hoạt động bành trướng đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông. Không thể trơ mắt nhìn Trung Quốc gây sức ép phá hoại các hợp đồng khai thác tài nguyên nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, bắt bớ bắn giết và cướp đoạt tiền bạc của ngư dân trên biển, và đẩy các dàn khoan thăm dò dầu khí ngày một xa hơn xuống phía nam, chính quyền Việt Nam gồng mình trong những hợp đồng mua sắm trang bị quốc phòng tốn kém. Người Việt Nam cố gắng bằng mọi cách nâng cao sức mạnh của mình, nhưng họ biết, chỉ có vậy là không đủ. Điểm chung này khiến Việt Nam hoan hỉ đón nhận sự trở lại của Mỹ trong khu vực với một sự hồ hởi hiếm thấy, bất chấp các lời chỉ trích thường xuyên qua lại giữa hai bên do sự khác biệt về ý thức hệ.

Phần lớn các nhà phân tích chiến lược trong những ngày này đều đưa ra nhận xét vui mừng với sự ấm nóng trong quan hệ Việt Mỹ. Ở một phía ngược lại, Trung Quốc thì nhìn nhận vấn đề trong con mắt dè chừng và có phần cay cú. Trung Quốc nhận ra, Mỹ đang phá hoại luật chơi mà Trung Quốc muốn áp dụng trong khu vực.

Tuy nhiên, sẽ là quá sớm khi nói đến một mối quan hệ đồng minh bền vững giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. Và sẽ là hết sức ngây thơ, nếu vội nhận xét rằng, Việt Nam cần trở thành đồng minh của Mỹ để chặn bước người Tàu trên biển. Đơn giản, bởi đó là điều ảo tưởng.

Thế giới sau thời Bezinsky hiếm có nhân vật chính trị nào có tầm nhìn vượt thời đại vài chục năm. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần có một “Viễn Kiến Biển Đông”, nhìn sâu vào bản chất vấn đề và vạch đường đi cho hôm nay và cho nhiều thế hệ kế tiếp. May mắn thay, Việt Nam không thiếu người tài, hơn thế, lãnh tụ Lãng vẫn còn sung sức, chưa liệt dương và còn lâu mới chết :D.

Các bạn phải chấp nhận những nhận xét dưới đây như những tiên đề không chứng minh, và phải xây đắp tầm nhìn của mình trên cơ sở những tiên đề ấy:

Tiên đề 1: Mỹ đến và Mỹ đi.

Người Mỹ đã từng hiện diện trong khu vực vì lợi ích quốc gia của nó. Họ ra đi khi thấy việc ở lại không tác dụng gì mà chỉ thiệt hại thêm. Ngày nay, cũng với toan tính về lợi ích quốc gia mà Mỹ tính chuyện quay lại biển Đông. Chính sách chiến lược của Việt Nam phải được xây dựng trên nền tảng: Người Mỹ có thể đến, nhưng họ sẽ không ở lại vĩnh viễn, mà họ sẽ có thể đi. Mọi chính sách chiến lược trông chờ vào sự hiện diện của Mỹ một cách lâu dài, do đó, chắc chắn đều là sai lầm.

Tiên đề 2: Mỹ – Trung đối đầu nhưng không bao giờ triệt hạ lẫn nhau.

Quyền lợi quốc gia khiến Trung – Mỹ đối đầu, thậm chí mâu thuẫn gay gắt, nhưng sẽ không bao giờ đủ lớn để tính chuyện triệt hạ lẫn nhau. Đơn giản bởi điều đó là phi thực tế. Mỹ quá mạnh để Trung Quốc có thể thách thức trực diện trong một tương lai 50 năm, ngược lại, Trung Quốc quá lớn để Mỹ có thể tính tới việc thanh trừng. Cả hai nước do đó sẽ phải chấp nhận sự tồn tại của nhau. Các nước nhỏ như Việt Nam , sống bên lề của các nền văn minh lớn, phải nhìn thấu suốt thực tế này. Ngày hôm nay Trung – Mỹ đang gấu ó sửng cồ với nhau, mâu thuẫn có vẻ cao trào, nhưng chắc chắn ngày mai họ sẽ phải tìm cửa xuống thang để cùng hạ đài bàn bạc. Đây là cái bẫy chiến lược mà các nước nhỏ thiếu tầm nhìn thường phạm phải sai lầm, khi đánh giá không đúng về thực trạng mâu thuẫn giữa các cường quốc.

Tiên đề 3: Mâu thuẫn chủ yếu Mỹ – Trung là về kinh tế, không phải về chính trị hay quân sự.

Nước Mỹ đã bỏ phần còn lại của thế giới ở khoảng cách quá xa, để có thể có một quốc gia nào đó đe dọa được Mỹ về quân sự. Ngược lại, Mỹ đang yếu đi về kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng thậm thụt hàng năm, cộng với tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài như một phần gắn liền với nền kinh tế tiêu dùng của Mỹ khiến sức mạnh kinh tế của siêu cường ấy ngày một suy yếu. Trong lúc đó, Trung Quốc với kỳ tích tăng trưởng chưa từng thấy trong nền kinh tế hiện đại, với mức tăng trưởng hai chữ số kéo dài qua ba thập niên và chưa có dấu hiệu dừng lại, đang ngày một thu hẹp khoảng với Hoa Kỳ. Hơn lúc nào hết, Mỹ đang hết sức lo ngại với viễn cảnh Trung Quốc soán ngôi thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Với số dân đông, khả năng tổ chức sản xuất hàng lọat trên quy mô lớn cực kỳ hiệu quả, và những chính sách tổng hợp trong hỗ trợ xuất khẩu, từ trợ giá, hỗ trợ thuế, đến việc duy trì chính sách tỷ giá, tiền tệ tạo thuận lợi tối đa cho sức cạnh tranh của hàng hóa made in china bán ra thế giới, Trung Quốc đã tạo được nhiều kỳ tích và nhanh chóng nâng cao sức mạnh kinh tế của mình.

Mỹ và đồng minh đang tìm mọi cách xóa bỏ các lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc, thu hẹp thâm hụt thương mại, và làm suy giảm vai trò chủ nợ của Trung Quốc đối với Mỹ nói riêng và phần còn lại của thế giới nói chung. Đây là điểm cốt tủy trong sự đối đầu Mỹ – Trung, nó sẽ còn kéo dài trong ít nhất 5 – 10 năm tới.

Việc mở rộng tầm ảnh hưởng về chính trị và quân sự của Trung Quốc sang các khu vực lân cận, bao gồm biển Đông, trên thực tế không nằm trong các lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ. Trong mọi trường hợp, dù Trung Quốc có thành công hay không trong tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, thì Mỹ vẫn có toàn quyền đi lại thuận tiện theo các lộ trình hàng hải vốn có, bởi Trung Quốc không thể và cũng chẳng dại dột gì chặn tàu bè Mỹ.

Căng thẳng Mỹ – Trung do đó chỉ là nhất thời, hòa hoãn và đàm phán mới là xu thế chủ đạo.

Tiên đề 4: Cuộc đối đầu dài hạn Mỹ – Trung, phần thắng tất yếu thuộc về Mỹ.

Có nhiều lý do để anh Lãng tin vào viễn kiến của mình:

– Xã hội Trung Quốc đang tiến nhanh trong 30 năm qua theo một cách thức riêng, nhưng đó là một nền văn minh chông chênh, thiếu nền tảng và không thích ứng thời đại. Thế chế cai trị tại Trung Quốc tất yếu sẽ phải thay đổi, điều đó sẽ dẫn tới những biến động to lớn khó lường, ảnh hưởng nặng đến viễn trình lâu dài của nền kinh tế Trung Hoa. Trong khi đó, xã hội Mỹ là một xã hội ưu việt, nền văn minh Mỹ đã được thử thách qua nhiều thăng trầm, vượt qua nhiều cuộc khủng hoảng, và đặc biệt, vẫn giữ được tính năng động với khả năng tự đổi mới đứng đầu thế giới. Nền tảng chính trị xã hội Mỹ bền vững hơn nhiều so với nền tảng chính trị xã hội hiện nay tại Trung Hoa. Do đó, trong một cuộc đấu đường trường, lợi thế tất yếu thuộc về Mỹ.

– Trên bình diện quốc tế, Mỹ là một tay già dơ với đủ thứ bạn bè, những mối quan hệ được xây đắp bền vững theo thời gian, trong khi Trung Quốc vẫn chỉ là một tay gà mờ nhập cuộc. Mỹ có nhiều bạn bè hơn Trung Quốc, nhiều nước chia sẻ cái nhìn của Mỹ hơn là Trung Quốc.

– Nền tảng xã hội Trung Quốc hiện tại tiềm ẩn một vực thẳm mà Trung Quốc nhìn thấy trước nhưng không thể khắc phục: Cơ cấu dân số, cơ cấu giới tính hiện tại và 20 năm sau. Hiện tại thì số dân đông đang trong tuổi lao động là lợi thế lớn của Trung Hoa. Nhưng chính sách sinh một con đang dẫn tới thảm họa mất cân bằng giới tính, và sự thiếu hụt bổ sung về nguồn nhân lực tương lai cho công xưởng khổng lồ của Trng Hoa. Sau 20 năm nữa, số người già nghỉ hưu ở Trung Quốc sẽ chiếm đại bộ phận dân số, và có tuổi thọ ngày càng tăng. Tương lai, người Trung Quốc lấy ai lao động để nuôi sống số dân dưỡng già của nó. Viễn cảnh này sẽ chặn đứng mọi giấc mơ vươn lên về dài hạn của Trung Quốc, bất chấp hiện tại nó đang tăng trưởng với tốc độ bao nhiêu. Trong khi đó, nước Mỹ, với tư cách là một nước phát triển, cũng phải đối mặt với sự suy giảm suất sinh, ngược lại, do là một điểm đến hấp dẫn về mức sống, cơ hội, văn minh và trình độ khoa học, Mỹ giữ được tính ổn định với nguồn dân cư chất lượng cao luôn được bổ sung. Thắng lợi lâu dài, do đó, hoàn toàn nghiêng về phía Mỹ.

– Lợi thế chính của Trung Quốc trong sức mạnh kinh tế, là nằm ở sức mạnh xuất khẩu và tư cách một công xưởng cho nền kinh tế thế giới. Sức mạnh này được tạo ra một cách bất bình đẳng bởi chính sách tỷ giá, chính sách hỗ trợ xuất khẩu tổng hợp mà Trung Quốc áp dụng trong nhiều thập niên qua. Ngòai ra, Trung Quốc hiện tại đang nắm trong tay một số nguồn tài nguyên sống còn, có thể đe dọa Mỹ và các nước phương tây, là đất hiếm. Tuy nhiên, những lợi thế này của Trung Quốc hoàn toàn không thể duy trì trước một chính sách tổng hợp của Mỹ và Đồng Minh. Chắc chắn rằng Mỹ và phương Tây sẽ gây sức ép thành công bắt buộc Trung Quốc phải nới lỏng tỷ giá, tiền tệ và xóa bỏ các chính sách hỗ trợ xuất khẩu tạo lợi thế bất bình đẳng. Trung Quốc đã bóp chết nhiều ngành sản xuất ở nhiều quốc gia. Hiện tại Mỹ và đồng minh đang nỗ lực chặn nó lại, và Trung Quốc rồi sẽ phải nhượng bộ. Một khi Trung Quốc mất đi các lợi thế cạnh tranh xuất khẩu, và suy giảm vai trò một nhà sản xuất toàn cầu, Trung Quốc sẽ không còn là mối đe dọa có tính hiểm họa đối với Mỹ nữa.

Tiên đề 5: Khi thắng trong ván bài kinh tế, Mỹ sẽ nhường nhịn các đòi hỏi của Trung Quốc về không gian ảnh hưởng xung quanh.

Khi thành công trong vấn đề “lợi ích cốt lõi”, Mỹ đương nhiên và bắt buộc sẽ phải nhân nhượng Trung Quốc trước các đòi hỏi kém quan trọng hơn. Biển Đông, tiếc thay, có thể xếp vào nhóm đó. Một nước Mỹ vững vàng ngự trị về kinh tế, sẽ giúp Mỹ tiếp tục giữ sức mạnh về quân sự, chính trị toàn cầu. Do đó, bất kể Trung Quốc có hay không có chủ quyền ở Biển Đông, quyền giao thông của Mỹ và Đồng Minh sẽ hòan toàn không bị đe dọa. Do đó, Mỹ sẽ đến và rồi cũng sẽ rời khỏi biển Đông về dài hạn.

Tuy nhiên điều đó không diễn ra ngay, anh Lãng nhận định rằng, cuộc đấu Mỹ – Trung trên bình diện kinh tế sẽ còn kéo dài trong ít nhất 5 – 10 năm kế tiếp, thậm chí còn có thể kéo dài lâu hơn nữa. Trong thời gian đó, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục tăng cường hiện diện ở biển Đông, nâng cao quan hệ với Việt Nam và các nước trong khu vực trong một toan tính gây sức ép tổng hợp với Trung Quốc.

Mọi chính sách chiến lược của Việt Nam , do đó, đều phải xây dựng trên cơ sở của 5 nhân tố có tính tiên đề sống còn này.

Anh Lãng

Nhận định bình luận: Quan hệ Việt Mỹ – Từ góc nhìn Trung Quốc

On the net

Lôi kéo và gây sức ép luôn là phương châm cơ bản của Chính phủ Mỹ đối với Việt Nam từ 15 năm qua. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam gần đây đã tổ chức hội nghị liên tịch, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ và an ninh xã hội.

Không nên chỉ chú ý đến những lời đường mật của Ngoại trưởng Mỹ phát biểu tại Hà Nội hồi cuối tháng 7 vừa qua, mà còn phải thấy nước Mỹ và thế lực chính trị do Mỹ nuôi dưỡng đang ngấm ngầm muốn làm gì tại Việt Nam.

Xinhuanet – Việt Nam liệu có liên minh với Mỹ?

(Bài đăng trên mạng XINHUANET của tác giả Lăng Đức Quyền – nguyên Trưởng phân xã Tân Hoa Xã tại Hà Nội, hiện là Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế của THX, trực tiếp nghiên cứu vấn đề Việt Nam và quan hệ Trung – Việt)

TTXVN (Bắc Kinh 25/8)

Gần đây báo chí nói rất nhiều và bằng rất nhiều cách liên quan đến khả năng “Việt Nam và Mỹ liên minh với nhau đối phó với Trung Quốc”. Những dư luận như vậy tuy không dựa vào sự thật căn bản nhưng không phải hoàn toàn không có căn cứ.

Những thế hệ già trẻ lưu vong trung thành với chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũ vẫn còn nuôi giấc mộng “khôi phục chế độ”, “về lại quê hương”. Những người này không chỉ cực đoan căm thù Đảng Cộng sản Việt Nam, căm thù Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam, những người đó đã đánh đổ chúng, mà còn ghi xương khắc cốt thù hận Trung Quốc là người bạn đã ủng hộ Việt Nam giành thắng lợi trong chiến tranh chống Mỹ. Trước sau những người này vẫn nghĩ ông chủ cũ sẽ giúp họ trở lại nắm chính quyền, “giành lại những gì đã mất trong chiến tranh”. Nếu liên minh dựa vào Mỹ mà từ bỏ những thứ nói trên, liệu họ có còn hướng đi nào khác? Tuy nhiên, đám xác chết với những âm hồn tản mạn có được người Mỹ nhìn nhận trở lại như là “đồng minh” nữa hay khyoong? Có lẽ nhiều lắm cũng chỉ được coi là những tên lính hầu tiểu tốt mà thôi.

Còn có một số người Việt Nam phản bội, bỏ chạy khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam như Bùi Tín, Phó tổng biên tập cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, điên cuồng chống Cộng, mấy hôm trước còn ra sức kêu gào Việt Nam và “tất cả các quốc gia dân chủ” như Mỹ liên minh với nhau cùng chống lại “mối đe dọa từ Trung Quốc”.

Ở trong nước, Việt Nam cũng không phải không có người hoặc công khai hoặc ngấm ngầm chủ trương rước sói vào nhà. VIETNAMNET, một tờ báo mạng không thuộc dòng chính thống có thế mạnh ở Hà Nội từ đầu năm tới nay đã thông qua phương thức liên lạc, đối thoại với Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, đến phỏng vấn một số cựu quan chức ngoại giao cao cấp, tuyên truyền khuyến khích nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ, xây dựng “quan hệ đối tác chiến lược”, thậm chí thảo luận thăm dò khả năng liên kết thành “đồng minh” với Mỹ. Tuy nhiên, những quan chức tuy đã nghỉ hưu nhưng vẫn quan tâm tới chính trị nói trên vừa không đại diện cho Chính phủ của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa không phản ánh được ý nguyện của quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam là những người đã chịu nhiều hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhưng tại sao những người này lại ra sức cổ vũ, và lịch sử cũng như bối cảnh cá nhân của họ cũng là vấn đề rất đáng phải tìm hiểu.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam liệu có “liên minh” với Mỹ? Về lâu dài xin tạm gác lại, hãy nghe nhà lãnh đạo Việt Nam gần đây trịnh trọng tuyên bố và cam kết với thế giới:

– Trong bài phát biểu tại Hội nghị an ninh châu Á lần thứ 6 tổ chức ở Xinhgapo ngày 31/5/2009, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng (Ủy viên Bộ Chính trị TW ĐCSVN), tuyên bố nguyên tắc và lập trường của Việt Nam trong ngoại giao quốc phòng như sau: “Không liên minh quân sự, không liên kết với nước này chống lại nước khác, không cho phép nước ngoài xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, không chạy đua vũ trang, chỉ từng bước hiện đại hóa quân đội và tăng cường tiềm lực quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ quốc gia”.

– Ngày 14/8 năm này trong khi bày tỏ thái độ về những “vấn đề nóng” như sự kiện tàu chiến Mỹ tới thăm Việt Nam và quan hệ quân sự Việt – Mỹ, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã chính thức làm sáng tỏ và trình bày rõ như sau: “Một số đài báo phương Tây bình luận ầm ĩ, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ hải quân với Mỹ nhằm ‘cân bằng sức mạnh’ ở Biển Đông. Lối bình luận như trên không có căn cứ, thiếu hiểu biết về chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng tôi trước sau luôn thực hiện chính sách quốc phòng bảo vệ tổ quốc bằng cách dựa vào sức mình là chính. Chúng tôi luôn giữ quan điểm độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào nước này chống lại nước kia”.

Ở Việt Nam không phải không có sự khác biệt và tranh cãi trong rất nhiều vấn đề lớn, cũng không cần phải ngạc nhiên trước những hiện tượng khác biệt và tranh cãi nói trên. Nhưng các nhà nghiên cứu và những nhà quan sát có trách nhiệm tuyệt đối không thể phóng đại vô hạn độ những thông tin mà một số người cố ý tạo ra với thái độ thiếu khách quan và không nghiêm túc, mà cần nhìn nhận những thông tin chuẩn xác và có độ tin cậy cao. Nếu nhào nặn tô vẽ, dùng tin đồn chuyển tải tin đồn, dẫn dụng phóng đại sẽ chỉ khiến công chúng hiểu sai vấn đề, gây hậu quả xấu cho toàn bộ công tác đối nội đối ngoại, mức độ tai hại sẽ rất khó lường!

Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 năm 1986 đến nay, Việt Nam đã từng bước thay đổi đường lối đối ngoại liên minh với Liên Xô, “nghiêng hẳn” về Liên Xô mà các nhà lãnh đạo trước đó một thời thực hiện, chuyển sang đường lối ngoại giao “độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế”, “làm bạn với các nước trên thế giới”, “tranh thủ môi trường quốc tế hòa bình ổn định”. Năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ giữa hai đảng hai nước, năm 1955 Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập khối ASEAN, tích cực phát triển quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế trên thế giới.

Gần đây, trong bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam cùng các bài viết đăng trên các báo lớn có uy tín ở Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh chính sách đối ngoại của Việt Nam: “Thi hành nguyên tắc độc lập, tự chủ, hòa bình và hợp tác, phát triển đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, tích cực chủ động hội nhập quốc tế; vừa là bạn đáng tin cậy vừa là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; phấn đấu cho một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”.

Trên thế giới, bất cứ quốc gia có chủ quyền nào cũng đều có quyền lựa chọn chế độ xã hội và chính sách đối nội đối ngoại của mình. Các nhà quan sát và nhà bình luận về các vấn đề quốc tế cần quan sát chính sách đối ngoại của một quốc gia một cách nghiêm túc và khách quan, nhận thức rõ đầu đuôi ngọn nguồn, phải trái trắng đen, phân biệt rõ đâu là mạch chính, đâu là mạch nhỏ, đâu là tiếng nói chủ yếu, đâu là tạp âm từ những tiếng nói khác nhau trong nội bộ một quốc gia. Đối với Việt Nam đương nhiên cũng không thể ngoại lệ.

Chính quyền và chế độ xã hội ở Việt Nam hiện nay là do Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đã lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam trải qua mấy chục năm phấn đấu gian khổ bằng xương máu mới giành lại được. “Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” là sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam. Mọi nước trên thế giới đều phải tôn trọng sự lựa chọn đó của nhân dân Việt Nam.

Mỹ và Việt Nam từng là “kẻ thù không đội trời chung” đánh nhau suốt mười mấy năm. Dòng thác lớn của thế giới ngày nay là hòa bình, hợp tác, phát triển. Việc “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” của hai “kẻ thù cũ” nói trên không những có lợi cho nhân dân hai nước, mà còn có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực. Trên thực tế, quan hệ Trung – Mỹ từ khi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc năm 1972 đến nay về đại thể cũng chẳng giống như vậy đó sao?

Là hai láng giềng núi sông liền một dải, việc người Trung Quốc quan tâm những thay đổi trong quan hệ Việt – Mỹ, và người Việt Nam quan tâm những thay đổi trong quan hệ Trung – Mỹ đều rất đỗi tự nhiên như vậy. Mọi người chúng ta không nên nhìn nhận một số biểu tượng trong quan hệ Việt – Mỹ một cách phiến diện và đơn giản hóa. Nhắm mắt làm ngơ trước sự thay đổi trong quan hệ Việt – Mỹ là điều ngốc nghếch, đánh giá quá mức mức độ quan hệ Việt – Mỹ cũng sẽ gây phức tạp cho chính mình.

Về mặt xử lý quan hệ song phương, Việt Nam và Mỹ có lợi ích chung nhưng mục tiêu và xuất phát điểm không giống nhau. Mọi người gần đây đã thấy một số biểu hiện nổi bật về sự “ấm lên” trong quan hệ Việt – Mỹ, nhưng thử hỏi mọi người có thấy Chính phủ Mỹ, chính khách Mỹ và các báo lớn ở Mỹ có ngừng lợi dụng “dân chủ”. “nhân quyền”, “tự do tôn giáo” và “tự do báo chí” để ngang ngược công kích Đảng Cộng sản Việt Nam hay Chính phủ Việt Nam hay không? Một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ gần đây còn lên tiếng ầm ĩ đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách đen với các “quốc gia đi ngược lại tự do tôn giáo” do Chính phủ Mỹ tự đặt ra!

Có một chủ đề vẫn luôn được các nhà lãnh đạo và dòng báo chí chủ lưu của Đảng, của quân đội Việt Nam tuyên truyền từ rất nhiều năm nay là đề phòng và chống lại âm mưu gây “cách mạng màu sắc”, “diễn biến hòa bình và tự diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch. Những vụ án cũng như sự thực về việc can thiệp thô bạo vào các công việc nội bộ của Việt Nam được báo chí chủ lưu công khai đưa tin cũng đủ khiến người ta phải giật mình, hơn nữa đó cũng chỉ là một phần chứ hoàn toàn không phải toàn bộ.

Lôi kéo và gây sức ép luôn là phương châm cơ bản của Chính phủ Mỹ đối với Việt Nam từ 15 năm qua. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam gần đây đã tổ chức hội nghị liên tịch, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ và an ninh xã hội.

Không nên chỉ chú ý đến những lời đường mật của Ngoại trưởng Mỹ phát biểu tại Hà Nội hồi cuối tháng 7 vừa qua, mà còn phải thấy nước Mỹ và thế lực chính trị do Mỹ nuôi dưỡng đang ngấm ngầm muốn làm gì tại Việt Nam.

Trở lại chủ đề bài viết qua dòng tựa đề nói trên – Việt Nam liệu có liên minh với Mỹ? Người nhiều tư cách nhất có thể trả lời câu hỏi này là thực thực, là người lãnh đạo và nhân dân hai nước Việt – Mỹ, mà các vị độc giả cũng không khó để đưa ra được những nhận định và kết luận của riêng mình./.

Nguồn: Anhbasam.com

Nhận định bình luận: Đa đảng – Sự sai lầm về khoa học, nguy hại về chính trị

On the net

Lệ Chi – Sự sai lầm về khoa học, nguy hại về chính trị

Trong một xã hội, sự tồn tại nhiều đảng và chế độ đa đảng tuy có những điểm giống nhau song không phải là một.

Về mặt hình thức, sự tồn tại nhiều đảng và chế độ đa đảng giống nhau ở chỗ đều là “số nhiều”. Tuy nhiên, đa đảng chỉ với nội dung phân công, phối hợp nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc do một đảng lãnh đạo, cầm quyền thì đó không phải là chế độ đa đảng, mà đơn giản chỉ là sự đa đạng của các tổ chức xã hội. Về bản chất, đó vẫn là chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền.

Chế độ đa đảng là một hình thái chính trị nhà nước trong đó lý do tồn tại của các đảng là sự cạnh tranh về quyền lực. Mỗi đảng thường là đại diện cho các lực lượng chính trị khác nhau, các nhóm lợi ích khác nhau… theo đuổi những lý tưởng, mục tiêu khác nhau, thường là đối lập với nhau về nhiều mặt, từ chính sách đối nội, đối ngoại, đến quan điểm, hệ tư tưởng – chế độ xã hội và ngày nay còn là thái độ, ứng xử đối với môi trường (như các đảng xanh chẳng hạn).

Thực tế cho thấy, trong một xã hội, chế độ đa đảng với sự đối lập, cạnh tranh, đấu tranh giữa các đảng không phải bao giờ cũng đem lại dân chủ và phát triển cho xã hội. Có nơi, có lúc sau sự thay đổi đảng cầm quyền cái gọi là dân chủ sau sự đảo lộn chính trị được mệnh danh vì dân chủ đã trở thành cái độc quyền của những lực lượng chính trị thắng thế. Ví dụ như, khi giành được thắng lợi, người ta có thể chiếm giữ hoặc mua các đài phát thanh, truyền hình, biến những phương tiện truyền thông của xã hội thành tài sản của một người hoặc của một đảng thắng thế, và đương nhiên nó sẽ phục vụ cho những người sở hữu nó. Ở Liên Xô, Đông Âu những năm 1989 – 1991, trong chế độ đa đảng mới được thiết lập, khi Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo thì lập tức xã hội đã chuyển sang con đường khác, hệ lụy là vô cùng to lớn. Không phủ nhận rằng trong chế độ đa đảng, sự thay đổi đảng cầm quyền không phải bao giờ cũng dẫn đến bạo lực hoặc đảo lộn xã hội, mà còn có nhiều kịch bản khác nhau. Ở khu vực Bắc Âu, thường do các đảng Dân chủ xã hội cầm quyền, sự chuyển giao quyền lực giữa các đảng diễn ra khá êm ả. Ở Hoa Kỳ, sự đổi vai giữa hai đảng: Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ có thể dẫn đến những thay đổi quan trọng trong chính sách đối nội, đối ngoại, như vừa qua, khi đảng Dân chủ thắng lợi, Ba-rắc Ô-ba-ma lên cầm quyền. Ở châu Phi, sự thay đổi đảng cầm quyền thường dẫn đến xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo…

Trên đây là phác thảo chế độ đa đảng và sự vận hành của chế độ đó trên thế giới.

Ở Việt Nam chế độ đa đảng được đặt ra từ bao giờ và trong bối cảnh nào?

– Ai cũng biết, trước khi Liên Xô tan rã, chế độ XHCN ở Đông Âu sụp đổ chưa có ai đặt ra vấn đề chế độ đa đảng ở Việt Nam (với đúng ý nghĩa của khái niệm đó). Ngay sau khi ra đời (1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành lực lượng chính trị tiến hành cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Trước khi cách mạng giành được thắng lợi, trong các vùng giải phóng, hệ thống chính trị Việt Nam (bao gồm các đoàn thể xã hội, mặt trận, Chính phủ lâm thời…) đã hình thành do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sau cách mạng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng càng được củng cố. Sự tham gia của một số đảng như Việt Nam Quốc dân đảng – “Việt Quốc”, Việt Nam cách mạng đồng minh hội – “Việt Cách”, trong những năm 1945, 1946 là do tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc” của cách mạng mà có.

Việc Chính phủ Hồ Chí Minh chấp nhận dành 72 ghế tại Quốc hội (Khóa I) không qua bầu cử, về thực chất là sách lược nhân nhượng với kẻ thù của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi cách mạng còn đang trong thời kỳ trứng nước. Vụ án bắt cóc, cướp của, giết người ở phố Ôn Như Hầu, mà thủ phạm là Việt Nam quốc dân đảng gây ra, cũng như sự tan rã của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, khi âm mưu “Hoa quân nhập Việt” (lực lượng Tưởng Giới Thạch kéo vào chiếm giữ miền Bắc) bị thất bại đã chứng minh rằng – Việt Quốc, Việt Cách ở vào thời kỳ lịch sử 1945 – 1946 là những tổ chức khủng bố, bán nước hại dân. Thế mà có người nhân danh là tiến sĩ, luật sư viết bài và tung lên mạng, rằng ở Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, với minh chứng là sự tồn tại của hai đảng trên. Thử hỏi:

– Phải chăng Việt Quốc, Việt Cách là những người yêu nước, đại diện cho đồng bào ta? Nếu không thì vì lý do gì mà người ta lại nhiều lần dẫn ra sự kiện đó?

– Phải chăng chế độ đa đảng có thể dung nạp những đại diện không cần phải thông qua bầu cử? Thử hỏi có nơi nào trên trái đất này có chế độ đa đảng kiểu như vậy không?

Thực tế cho thấy, không có một đảng cầm quyền nào, một chính phủ nào lại dại dột tạo cơ hội cho các thế lực chính trị đối lập trong nước câu kết với ngoại bang tìm chỗ đứng trong chính trường quốc gia cả.

Còn sự ra đời và hoạt động của hai đảng là đảng Xã hội và đảng Dân chủ trong những năm 60 – 80, thế kỷ XX cũng không thể cho rằng đó là thời kỳ đa đảng, đơn giản vì hai đảng này đều do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Hơn nữa, trước sau Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội đều không hề có ý tưởng cạnh tranh với vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như vậy là ở Việt Nam chưa bao giờ có chế độ đa đảng theo đúng nghĩa của nó. Vấn đề đa đảng mới chỉ đặt ra ở Việt Nam từ khi xuất hiện cái gọi là “tư duy chính trị mới”, mà nội dung cơ bản của nó là đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” trong thời kỳ cải tổ ở Liên Xô, Đông Âu.

Về khách quan, việc tuyệt đối hóa, áp đặt chế độ đa đảng, bất chấp các điều kiện lịch sử cụ thể là một sai lầm về khoa học, nguy hại về chính trị.

Nếu như “tất cả đều có thể” – một châm ngôn được nhiều người ngưỡng mộ, thì vì sao một đảng lãnh đạo, cầm quyền lại không có thể mà nhất thiết phải là đa đảng? Vấn đề là ở chỗ – chỉ những cái có thể mới có thể. Còn những cái không thể thì không thể chuyển thành cái có thể được. Đời sống đã chỉ ra như vậy. Ví dụ như người ta “không thể” hy sinh thành quả của cách mạng mà nhân dân ta đã giành được bằng bao nhiêu mồ hôi, xương máu để đổi lấy cái gọi là dân chủ, nhân quyền mơ hồ, trìu tượng, phi lịch sử cụ thể…

Trong lịch sử Việt Nam, dân chủ, nhân quyền do nhân dân ta tự đứng lên mà giành lấy, chẳng có “mẫu quốc” hoặc quốc gia “đồng minh” nào chia sẻ cho chúng ta những giá trị đó cả. Nếu như ngày nay xã hội ta vẫn còn nhiều vấn đề nhức nhối, như tình trạng quan liêu, tham nhũng, vi phạm dân chủ, nhân quyền, thì đó là điều Đảng và Nhà nước ta không mong muốn và chúng ta đang nỗ lực xóa bỏ tình trạng đó. Nhưng để giải quyết những vấn đề trên, nhất thiết không thể trông cậy vào những lực lượng chính trị đối lập dưới bất cứ hình thức nào. Chúng ta phải tự giải quyết lấy công việc của mình, cho dù đó là một công việc vô cùng khó khăn, phức tạp.

Lệ Chi/QĐND